Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 19/2024/HNGĐ-PT

Ngày: 29/7/2024

V/v Ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tuấn

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thành

Ông Nguyễn Lê Phương

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Vân, là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình phúc thẩm thụ lý số 16/2024/TLPT-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024 về việc: “Ly hôn, nuôi con chung".

Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 37/2024/HNGĐ-ST ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 23/2024/QĐ-PT ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Yến N, sinh năm 1995

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Ông Lê Thanh T, sinh năm 1990

Địa chỉ: Khu phố C, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa có mặt ông T. Vắng mặt bà N, bà N có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm:

Theo đơn khởi kiện ngày 04/3/2024, bản tự khai, biên bản hòa giải, nguyên đơn bà Võ Thị Yến N trình bày:

- Về hôn nhân: Bà và ông Lê Thanh T tự nguyện tìm hiểu, sống chung và có đăng ký kết hôn vào năm 2016 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2023. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông T.

- Về con chung: Bà và ông T có hai con chung tên Lê Tường V, sinh ngày 04/3/2016 và Lê Gia H, sinh ngày 04/10/2019. Con chung Lê Tường V đang sống với ông T và Lê Gia H đang sống với bà. Khi ly hôn, bà đồng ý giao con chung tên Lê Tường V cho ông T nuôi dưỡng, bà nuôi dưỡng con chung Lê Gia H. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo Bản tự khai ngày 04/3/2024, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn ông Lê Thanh T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Võ Thị Yến N tự nguyện tìm hiểu, sống chung và có đăng ký kết hôn vào năm 2016 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Ông thừa nhận vợ chồng không còn chung sống từ đầu năm 2024 cho đến nay. Ông không đồng ý ly hôn vì ông vẫn còn thương vợ con.

- Về con chung: Ông và bà N có hai con chung tên Lê Tường V, sinh ngày 04/3/2016 và Lê Gia H, sinh ngày 04/10/2019. Con chung Lê Tường V đang sống với ông và Lê Gia H đang sống với bà N. Nếu ly hôn thì ông yêu cầu được nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản án hôn nhân gia đình số 37/2024/HNGĐ-ST ngày 15 tháng 5 năm 2024 Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết, đã quyết định:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 8, Điều 9, Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Yến N, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung".

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Yến N được ly hôn ông Lê Thanh T.

- Về con chung:

Ông Lê Thanh T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Tường V, sinh ngày 04/3/2016. Bà Võ Thị Yến N có nghĩa vụ giao con chung Lê Tường V cho ông Lê Thanh T nuôi dưỡng.

Bà Võ Thị Yến N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Gia H, sinh ngày 04/10/2019. Ông Lê Thanh T có nghĩa vụ giao con chung Lê Gia H cho bà Võ Thị Yến N nuôi dưỡng.

Bà N, ông T có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con chung.

Bà N, ông T không được ngăn cản nhau trong việc thăm nom, chăm sóc và giáo dục các con chung.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Võ Thị Yến N và ông Lê Thanh T đều chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024, bị đơn ông Lê Thanh T kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm vì không đồng ý việc ly hôn và giao con chung là cháu Lê Gia H, sinh ngày 04/10/2019 cho bà Võ Thị Yến N. Đồng thời, yêu cầu Tòa án giải quyết khoản nợ 65.000.000 đồng của bà N đối với ông.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị đơn ông Lê Thanh T vẫn giữ nguyên kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa án sơ thẩm như đơn kháng cáo.

- Tại Đơn xin xét xử vắng mặt của bà Võ Thị Yến N lập ngày 16/7/2024 (có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã T), bà N trình bày vẫn giữ nguyên các ý kiến đã trình bày trước đây và đề nghị Tòa án không chấp nhận đơn kháng cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

1. Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng pháp luật tố tụng; người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của pháp luật.

2. Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Thanh T, giữ nguyên Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 37/2024/HNGĐ-ST ngày 15 tháng 5 năm 2024 Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý

kiến trình bày và tranh luận của các đương sự, quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt bà Võ Thị Yến N nhưng bà N đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà N.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn ông Lê Thanh T:

[2.1] Về hôn nhân: Bà Võ Thị Yến N và ông Lê Thanh T tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 10/2016 ngày 15/02/2016 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do không hợp tính cách của nhau, bất đồng quan điểm sống, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Hơn nữa, vợ chồng đã không còn ở chung, không còn quan tâm đến nhau nữa. Tại Đơn kháng cáo thì ông T có yêu cầu được hàn gắn tình cảm với bà T và ông xác định mình vẫn còn yêu thương vợ, không có vi phạm nào về nghĩa vụ vợ chồng. Tuy nhiên, trong suốt quá trình giải quyết tại tòa sơ thẩm và tại Đơn xin xét xử vắng mặt của bà Võ Thị Yến N lập ngày 16/7/2024 (có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã T), bà xác định giữa bà và ông T không còn tình cảm, vợ chồng không còn tiếng nói chung và không thể hàn gắn được. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu ly hôn của của bà Võ Thị Yến N là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[2.2] Về con chung: Bà Võ Thị Ý N1 và ông Lê Thanh T đều xác định có hai người con chung tên Lê Tường V, sinh ngày 04/3/2016 và Lê Gia H, sinh ngày 04/10/2019. Bản án sơ thẩm đã giao cháu V cho ông T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; còn cháu H do bà N1 trực tiếp nuôi dưỡng và các bên không ai có yêu cầu bên còn lại phải cấp dưỡng nuôi con. Tại đơn kháng cáo và tại phiên tòa phúc thẩm, ông T đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H vì ông cho rằng bà N1 hiện nay chưa có chỗ ở ổn định, không có khoản tích lũy nào trong tay; ngoài ra, cháu H hiện bị bệnh thiếu men G6PD liên quan đến vấn đề gen và máu khó đông, chỉ ông ông T mới có thể truyền máu và tùy khi có trường hợp cấp thiết xảy ra.

Thấy rằng, về điều kiện nuôi con chung của bà N1 và ông T, cả hai đều có nơi ở và thu nhập ổn định. Mặt khác, bà N1 xác định mình đủ khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H. Hơn nữa, ông T cũng đang chăm sóc, nuôi dưỡng cháu V. Do đó, để đảm bảo điều kiện chăm sóc, môi trường sống và sự phát triển bình thường của các cháu, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử về con chung là phù hợp.

Đối với vấn đề cháu H bệnh thiếu men G6PD thì Tòa án xét thấy nếu có trường hợp cấp thiết xảy ra thì ông T có thể cùng với bà N1 để chăm sóc, hỗ trợ cho cháu H.

[2.3] Quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm, bị đơn ông Lê Thanh T không có yêu cầu phản tố đề nghị giải quyết nợ giữa hai người cũng như các yêu cầu khác nên tại phiên tòa xét xử phúc thẩm, Tòa án không có căn cứ để giải quyết. Nếu ông

Lê Thanh T thấy quyền lợi của mình bị ảnh hưởng thì có quyền khởi kiện thành một vụ án khác theo quy định của pháp luật.

[3] Từ những nhận định trên, xét thấy ông Lê Thanh T kháng cáo nhưng không có chứng cứ gì mới để chứng minh cho kháng cáo của mình, không có căn cứ để Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận, như quan điểm của Kiểm sát viên là phù hợp.

[4] Các phần khác của bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo ông Lê Thanh T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Thanh T. Giữ nguyên Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 37/2024/DS-ST ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.

Áp dụng: Điều 144, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 8, Điều 9, Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Yến N về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung"

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Yến N được ly hôn ông Lê Thanh T.

- Về con chung:

Ông Lê Thanh T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Tường V, sinh ngày 04/3/2016. Bà Võ Thị Yến N có nghĩa vụ giao con chung Lê Tường V cho ông Lê Thanh T nuôi dưỡng.

Bà Võ Thị Yến N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Gia H, sinh ngày 04/10/2019. Ông Lê Thanh T có nghĩa vụ giao con chung Lê Gia H cho bà Võ Thị Yến N nuôi dưỡng.

Bà N, ông T có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con chung.

Bà N, ông T không được ngăn cản nhau trong việc thăm nom, chăm sóc và giáo dục các con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Võ Thị Yến N và ông Lê Thanh T đều chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

2. Về án phí:

2.1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Võ Thị Yến N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng bà N đã nộp theo biên lai số 0001386, ngày 19/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết. Bà N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

2.2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Thanh T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001843 ngày 10/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết.

Trường hợp Bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (29/7/2024).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh B. Thuận;
  • - TAND TP Phan Thiết;
  • - Chi cục THADS TP Phan Thiết;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ, Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/HNGĐ-PT ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 19/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Về hôn nhân: Bà và ông Lê Thanh T tự nguyện tìm hiểu, sống chung và có đăng ký kết hôn vào năm 2016 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2023. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông T. - Về con chung: Bà và ông T có hai con chung tên Lê Tường V, sinh ngày 04/3/2016 và Lê Gia H, sinh ngày 04/10/2019. Con chung Lê Tường V đang sống với ông T và Lê Gia H đang sống với bà. Khi ly hôn, bà đồng ý giao con chung tên Lê Tường V cho ông T nuôi dưỡng, bà nuôi dưỡng con chung Lê Gia H. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con. - Về tài sản chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. - Về nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger