Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẢNG BOM

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 19/2024/DSST

Ngày: 09-5-2024.

V/v: “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bá Đức.

- Các Hội thẩm nhân dân:1/ Ông Vũ Xuân Tuất.

2/ Ông Nguyễn Đình Quang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai: Bà Phạm Thị Kiều Diễm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 325/2022/TLST-DS ngày 04 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐST-DS ngày 28 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Lê T, sinh năm 1969.
  2. Địa chỉ: C đường F, Phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Bị đơn: Bà Lê Thị S, sinh năm 1957.
  4. Địa chỉ: đường H, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

  5. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    • - Bà Lê Thị N, sinh năm 1959.
    • - Ông Lê H, sinh ngày 10/10/1964.
    • - Ông Lê H1, sinh năm 1965.
    • - Bà Lê Thị T1, sinh năm 1966.
    • - Bà Lê Thị Bích L, sinh năm 1977.

    Cùng địa chỉ: đường H, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Ông T, bà S, bà N, ông H, bà T1, bà L có mặt, ông H1 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông Lê T trình bày:

Vào năm 1972, cha mẹ của ông T là Lê T2, sinh năm 1926 và bà Võ Thị T3, sinh năm 1932 từ tỉnh Quảng Nam vào Đồng Nai sinh sống cùng các con tại ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai và tạo lập được khối tài sản chung sau: Thửa đất số 360 tờ bản đồ số 13; thửa số 8 tờ bản đồ số 35; thửa số 260 tờ bản đồ số 27; thửa số 76 tờ bản đồ số 32; thửa số 6 tờ bản đồ số 35; thửa số 79 tờ bản đồ số 32; thửa số 65 tờ bản đồ số 32. Tất cả các thửa đất trên đều thuộc ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Cha mẹ ông T có 07 người con tên là: Lê Thị S, sinh năm 1957; Lê Thị N, sinh năm 1959; Lê H, sinh năm 1964; Lê H1, sinh năm 1965; Lê Thị T1, sinh năm 1966; Lê T, sinh năm 1969; Lê Thị Bích L, sinh năm 1977. Ngoài những người con này thì cha mẹ ông T không còn có con riêng hay người con nuôi nào khác.

Cha mẹ ông T chết không để lại di chúc. Hiện tất cả các thửa đất trên đều đang do chị gái của ông T là bà Lê Thị S quản lý và không bàn bạc với các anh chị em trong gia đình để phân chia di sản thừa kế của cha mẹ để lại.

Nay ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia di sản thừa kế của cha mẹ ông T để lại theo quy định của pháp luật đối với các thửa đất số 360 tờ bản đồ số 13; thửa số 8 tờ bản đồ số 35; thửa số 260 tờ bản đồ số 27; thửa số 76 tờ bản đồ số 32; thửa số 6 tờ bản đồ số 35; thửa số 79 tờ bản đồ số 32; thửa số 65 tờ bản đồ số 32 tại xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Ông T yêu cầu Tòa án chia các thửa đất trên thành 07 kỷ phần bằng nhau, ông T yêu cầu chia thửa đất số 76 và thửa đất số 79, tờ bản đồ số 32 thành 04 phần bằng nhau cho ông T, bà S, bà N và ông H1; chia thửa đất số 260, tờ bản đồ số 27 cho ông H; đồng ý để căn nhà trên thửa đất số 360, tờ bản đồ số 13 làm nơi thờ cúng cha mẹ còn đối với phần đất trống thì chia đều cho các anh chị em.

Ông T đồng ý với kết quả đo đạc tại bản trích lục và đo vẽ thửa đất bản đồ địa chính ngày 20/6/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh T4 và kết quả thẩm định giá tại Chứng thư thẩm định giá số 259/2023/TĐG-CT ngày 15/9/2023 của Công ty cổ phần T5.

* Quá trình tố tụng bị đơn bà Lê Thị S có trình bày:

Cha mẹ bà S tên là Lê T2, sinh năm 1926 (chết năm 1993), mẹ là Võ Thị T3, sinh năm 1931 (chết năm 2020). Cha mẹ bà S có 07 người con tên là Lê Thị S, sinh năm 1957; Lê Thị N, sinh năm 1959; Lê H, sinh năm 1964; Lê H1, sinh năm 1965; Lê Thị T1, sinh năm 1966; Lê T, sinh năm 1969; Lê Thị Bích L, sinh năm 1977. Ngoài những người con này thì cha mẹ bà S không còn có con riêng hay người con nuôi nào khác.

Quá trình chung sống, cha mẹ bà S có khai phá, chuyển nhượng các thửa đất số 360 tờ bản đồ số 13; thửa số 8 tờ bản đồ số 35; thửa đất số 260 tờ bản đồ số 27; thửa 76 tờ bản đồ số 32; thửa số 6 tờ bản đồ số 35; thửa số 79 tờ bản đồ số 32; thửa số 65 tờ bản đồ số 32 cùng thuộc xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Khi chết thì cha mẹ bà S đều không để lại di chúc gì.

Nay ông T có đơn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật tài sản của cha mẹ để lại thì bà S có ý kiến như sau: bà S đồng ý chia cho ông T diện tích đất 5508m2 thuộc thửa đất số 6 tờ bản đồ số 35; chia cho bà T1 diện tích đất 4315.5m2 thuộc thửa đất số 8 tờ bản đồ số 35; đối với phần diện tích 6724.5m2 thuộc thửa 260 tờ bản đồ số 27 thì bà S sẽ bán rồi cho bà L một phần tiền. Đối với phần diện tích 1509.2m2 thuộc thửa đất số 360 tờ bản đồ số 13 hiện tại đang là nơi thờ cúng cha mẹ nên bà S đề nghị phần diện tích này là chung của các anh chị em để làm nơi thờ cúng cha mẹ. Phần diện tích 6756.8m2 thuộc thửa 65 tờ bản đồ số 32 hiện đã có quyết định thu hồi đất và nhận tiền bồi thường của Hội đồng bồi thường – UBND huyện T nhưng do có tranh chấp nên các anh chị em trong gia đình chưa nhận tiền bồi thường, nay bà S đề nghị phần tiền bồi thường này sẽ do bà S thay mặt các anh chị em trong gia đình để nhận phần tiền bồi thường này để lo cho việc thờ cúng hàng năm cho cha mẹ; phần diện tích đất còn lại thì sẽ bán chia đều cho các anh chị em. Thửa đất số 76 và thửa 79 tờ bản đồ số 32 được chia cho 4 chị em là bà S, bà N, ông H, ông H1 sẽ có quyền quản lý, sử dụng chung.

Từ trước đến nay, bà S và ông H1 không lập gia đình nên sống tại căn nhà trên thửa đất số 360 tờ bản đồ số 13 để chăm sóc cha mẹ khi còn sống và thờ cúng cha mẹ khi chết. Bà S, ông H, bà N, ông H1 là người trực tiếp canh tác trên các thửa đất trên từ khi cha mẹ vào tỉnh Đồng Nai lập nghiệp cho đến nay. Ông T cũng phụ giúp gia đình đến năm 2008 thì lập gia đình và chuyển về thành phố Hồ Chí Minh sinh sống, không trực tiếp canh tác nữa. Bà T1 làm phụ gia đình đến năm 2000 thì không còn giúp gia đình làm rẫy nữa. Đối với bà Liên t nhỏ đến nay không phụ giúp gia đình, không trực tiếp làm rẫy cùng các anh chị em.

Trường hợp ông T vẫn cương quyết yêu cầu chia thừa kế của cha mẹ để lại thì bà S đề nghị Tòa án xem xét đến công sức đóng góp, tôn tạo, gìn giữ các thửa đất trên cho bà S, ông H, bà N, ông H1.

Bà S đồng ý với kết quả đo đạc của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh T4. Đối với kết quả thẩm định giá tại Chứng thư thẩm định giá số 259/2023/TĐG-CT ngày 15/9/2023 của Công ty cổ phần T5 thì bà S không có ý kiến gì, bà S cũng không yêu cầu Tòa án trưng cầu thẩm định giá lại.

* Quá trình tố tụng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê H và bà Lê Thị N trình bày:

Ông H, bà N thống nhất về nhân thân và hàng thừa kế như ông T và bà S trình bày. Đối với việc chia thừa kế yêu cầu Tòa án tính đến công sức đóng góp, tôn tạo, gìn giữ các thửa đất trên cho bà S, ông H, bà N, ông H1 vì là những người trực tiếp canh tác cùng cha mẹ từ trước đến nay. Bà S và ông H1 là người chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ khi về già và lo thờ cúng cho cha mẹ. Ông H, bà N đồng ý với cách phân chia các tài sản chung như bà S trình bày.

Ông H, bà N đồng ý với kết quả đo đạc của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh T4. Đối với kết quả thẩm định giá tại Chứng thư thẩm định giá số 259/2023/TĐG-CT ngày 15/9/2023 của Công ty cổ phần T5 thì bà N, ông H không có ý kiến gì và cũng không yêu cầu Tòa án trưng cầu thẩm định giá lại.

* Quá trình tố tụng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị T1 trình bày:

Cha mẹ bà T1 tên là Lê T2, sinh năm 1926 (chết năm 1993), mẹ là Võ Thị T3, sinh năm 1931 (chết năm 2020). Cha mẹ bà T1 có 07 người con tên là Lê Thị S, sinh năm 1957; Lê Thị N, sinh năm 1959; Lê H, sinh năm 1964; Lê H1, sinh năm 1965; Lê Thị T1, sinh năm 1966; Lê T, sinh năm 1969; Lê Thị Bích L, sinh năm 1977. Ngoài những người con này thì cha mẹ bà T1 không còn có con riêng hay người con nuôi nào khác.

Quá trình chung sống, cha mẹ bà T1 có khai phá các thửa đất số 360 tờ bản đồ số 13; thửa số 8 tờ bản đồ số 35; thửa số 260 tờ bản đồ số 27; thửa 76 tờ bản đồ số 32; thửa số 6 tờ bản đồ số 35; thửa số 79 tờ bản đồ số 32; thửa số 65 tờ bản đồ số 32 cùng thuộc xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Khi chết thì cha mẹ bà T1 đều không để lại di chúc gì.

Nay ông T khởi kiện chia thừa kế của cha mẹ theo pháp luật thì bà T1 yêu cầu được nhận 1 kỷ phần thừa kế của cha mẹ để lại. Bà T1 yêu cầu được nhận bằng hiện vật là đất. Về cách phân chia thừa kế thì bà T1 đồng ý để căn nhà hiện tại đang sử dụng làm nơi thờ cúng cha mẹ thì không chia mà để làm nơi thờ cúng, phần diện tích đất còn lại thì bà T1 yêu cầu chia đều cho các anh chị em và bà T1 yêu cầu được hưởng 1 phần đất trong thửa đất này; bà T1 yêu cầu được chia thửa đất số 8 tờ bản đồ số 35 và yêu cầu nhận thêm phần diện tích đất cho đồng đều cùng với các anh chị em trong gia đình.

Bà T1 đồng ý với kết quả đo đạc của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh T4 và kết quả thẩm định giá tại Chứng thư thẩm định giá số 259/2023/TĐG-CT ngày 15/9/2023 của Công ty cổ phần T5.

* Quá trình tố tụng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Bích L trình bày:

Cha mẹ bà L tên là Lê T2, sinh năm 1926 (chết năm 1993), mẹ là Võ Thị T3, sinh năm 1931 (chết năm 2020). Cha mẹ bà L có 07 người con tên là Lê Thị S, sinh năm 1957; Lê Thị N, sinh năm 1959; Lê H, sinh năm 1964; Lê H1, sinh năm 1965; Lê Thị T1, sinh năm 1966; Lê T, sinh năm 1969; Lê Thị Bích L, sinh năm 1977. Ngoài những người con này thì cha mẹ bà L không còn có con riêng hay người con nuôi nào khác.

Quá trình chung sống, cha mẹ bà L có khai phá các thửa đất số 360 tờ bản đồ số 13; thửa số 8 tờ bản đồ số 35; thửa số 260 tờ bản đồ số 27; thửa 76 tờ bản đồ số 32; thửa số 6 tờ bản đồ số 35; thửa số 79 tờ bản đồ số 32; thửa số 65 tờ bản đồ số 32 cùng thuộc xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Khi chết thì cha mẹ bà L đều không để lại di chúc gì.

Nay ông T khởi kiện chia thừa kế của cha mẹ theo pháp luật thì bà L yêu cầu được nhận 1 kỷ phần thừa kế của cha mẹ để lại. Bà L yêu cầu được nhận bằng hiện vật là đất. Về cách phân chia thừa kế thì bà L đồng ý để căn nhà hiện tại đang sử dụng làm nơi thờ cúng cha mẹ thì không chia mà để làm nơi thờ cúng, phần diện tích đất còn lại thì bà L yêu cầu chia đều cho các anh chị em và bà L yêu cầu được hưởng 1 phần đất trong thửa đất này; bà L yêu cầu được nhận thửa đất số 6 tờ bản đồ số 35 và yêu cầu nhận thêm diện tích đất cho đồng đều cùng với các anh chị em trong gia đình.

Bà L đồng ý với kết quả đo đạc của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh T4 và kết quả thẩm định giá tại Chứng thư thẩm định giá số 259/2023/TĐG-CT ngày 15/9/2023 của Công ty cổ phần T5.

* Quá trình tố tụng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lê H1 trình bày:

Ông H1 thống nhất với lời trình bày của bà S, yêu cầu Tòa án tính đến công sức đóng góp, tôn tạo, gìn giữ các thửa đất trên cho bà S, ông H, bà N, ông H1 vì ông H, bà N là những người trực tiếp canh tác cùng cha mẹ từ trước đến nay. Bà S và ông H1 là người chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ khi về già và lo thờ cúng cho cha mẹ. Ông H1 và bà S không lập gia đình và hiện đang sống tại căn nhà cấp 4 trên thửa đất số 360, tờ bản đồ số13. Ông H1 đồng ý với cách phân chia các tài sản chung như bà S trình bày.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án được tiến hành theo quy định pháp luật. Tuy nhiên Thẩm phán còn vi phạm về thời hạn mở phiên tòa, cụ thể tại Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST-DS ngày 05/4/2024 Tòa án ấn định ngày xét xử là ngày 09/5/2024 là vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đối với việc giải quyết vụ án:

Các đương sự đều thừa nhận cụ Lê T2, sinh năm 1926 chết năm 1993 và cụ Võ Thị T3, sinh năm 1931 chết năm 2020 là vợ chồng. Hai cụ có 07 người con chung tên là: Lê Thị S, sinh năm 1957; Lê Thị N, sinh năm 1959; Lê H, sinh năm 1964; Lê H1, sinh năm 1965; Lê Thị T1, sinh năm 1966; Lê T, sinh năm 1969; Lê Thị Bích L, sinh năm 1977. Ngoài những người con này thì cụ T2 và cụ T3 không có con riêng hay người con nuôi nào khác. Cha mẹ cụ T2 và cụ T3 đã chết trước cụ T2 và cụ T3. Do vậy đây là những tình tiết sự kiện không phải chứng minh.

Quá trình sinh sống cụ T2 và cụ T3 tạo lập được khối tài sản chung gồm:

  • Thửa đất số 360 tờ bản đồ 13, xã H có diện tích 1509,2m2 đất ở và đất trồng cây lâu năm.
  • Thửa số 6 tờ bản đồ 35, xã H có diện tích 5508,5m2 đất trồng cây lâu năm.
  • Thửa số 8 tờ bản đồ 35, xã H có diện tích 4315,5m2 đất trồng cây hàng năm.
  • Thửa 260 tờ bản đồ 27, xã H có diện tích 6724,5m2 đất trồng lúa nước.
  • Thửa số 76 tờ bản đồ 32, xã H có diện tích 9677,2m2 đất trồng cây lâu năm.
  • Thửa số 79 tờ bản đồ 32, xã H có diện tích 12682,0m2 đất trồng cây lâu năm.
  • Thửa số 65 tờ bản đồ 32, xã H có diện tích 6756,8m2 đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm.

Cụ T2, cụ T3 chết không để lại di chúc, do vậy yêu cầu khởi kiện của ông T về việc chia di sản thưa kế của cụ T2 và cụ T3 theo pháp luật là có căn cứ.

Xác định di sản thừa kế của cụ T2 và cụ T3 là quyền sử dụng đất các thửa đất số 360 tờ bản đồ số 13; thửa số 6 và thửa số 8 tờ bản đồ số 35; thửa số 260 tờ bản đồ số 27; thửa số 76 tờ bản đồ số 32; thửa số 79 tờ bản đồ số 32; thửa số 65 tờ bản đồ số 32, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai được chia theo pháp luật cho 07 người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ T2 và cụ T3 gồm bà S, ông T, bà N, ông H, ông H1, bà T1 và bà L.

Đồng thời do bà S và ông H1 không lập gia đình nên sống tại căn nhà trên thửa đất số 360 tờ bản đồ số 13 để chăm sóc cha mẹ khi còn sống và thờ cúng cha mẹ khi chết và là người trông nom, quản lý các di sản nêu trên nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tính đến một phần công sức của ông H1, bà S.

Từ những phân tích nêu trên, căn cứ Điều 612, 613, 649 và điểm a, khoản 1 Điều 651, 660 Bộ luật Dân sự 2015 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê T về việc Tranh chấp về thừa kế tài sản.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14, buộc đương sự phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

1.1. Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn ông Lê T khởi kiện yêu cầu chia thừa kế di sản cha mẹ để lại nên quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.

1.2. Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện chia thừa kế đối với di sản của ông Lê T2 và bà Võ Thị T3 để lại là quyền sử dụng đất thuộc các thửa đất số 360 tờ bản đồ số 13; thửa số 8 tờ bản đồ số 35; thửa số 260 tờ bản đồ số 27; thửa 76 tờ bản đồ số 32; thửa số 6 tờ bản đồ số 35; thửa số 79 tờ bản đồ số 32; thửa số 65 tờ bản đồ số 32 cùng thuộc xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai nên theo quy định tại Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

1.3. Về áp dụng pháp luật: Thời điểm mở thừa kế của ông Lê T2 là năm 1993, của bà Võ Thị T3 là năm 2020 nên cần áp dụng Pháp lệnh chia thừa kế số 44-LCT/HĐNN8 ngày 10/9/1990 của Hội đồng Nhà nước và Bộ luật dân sự năm 2015.

1.4. Về người tham gia tố tụng: Ông Lê T khởi kiện yêu cầu chia thừa kế đối với bà Lê Thị S nên xác định ông Lê T là nguyên đơn, bà Lê Thị S là bị đơn. Đối với bà Lê Thị N, ông Lê H, ông Lê H1, bà Lê Thị T1, bà Lê Thị Bích L đều là hàng thừa kế thứ nhất nên xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

1.5. Quá trình tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê H1 có đơn xin vắng mặt nên căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với ông H1.

[2]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

2.1. Về hàng thừa kế thứ nhất: Các đương sự đều thống nhất ông Lê T2, sinh năm 1926 (chết năm 1993), mẹ là Võ Thị T3, sinh năm 1931 (chết năm 2020) có 07 người con gồm: Lê Thị S, sinh năm 1957; Lê Thị N, sinh năm 1959; Lê H, sinh năm 1964; Lê H1, sinh năm 1965; Lê Thị T1, sinh năm 1966; Lê T, sinh năm 1969; Lê Thị Bích L, sinh năm 1977. Ngoài ra, ông T2 và bà T3 không còn con chung hoặc con riêng nào khác. Cha mẹ của ông T2, bà T3 đều chết trước ông T2, bà T3 nên xác định hàng thừa kế thứ nhất gồm: bà Lê Thị S, bà Lê Thị N, ông Lê H, ông Lê H1, ông Lê T, bà Lê Thị T1, bà Lê Thị Bích L.

2.2. Về di sản thừa kế các đương sự yêu cầu giải quyết gồm: các thửa đất số 360 tờ bản đồ số 13, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BO 002865 cho bà Võ Thị T3 ngày 14/7/2014; thửa đất số 8 tờ bản đồ số 35, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BO 002864 cho bà Võ Thị T3 ngày 14/7/2014; thửa đất số 260 tờ bản đồ số 27 xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 783824 cho bà Võ Thị T3 ngày 17/12/2015; thửa đất số 76 tờ bản đồ số 32 xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 783826 cho bà Võ Thị T3 ngày 17/12/2015; thửa đất số 6 tờ bản đồ số 35 xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 397328 cho bà Võ Thị T3 ngày 06/8/2015; thửa đất số 79 tờ bản đồ số 32 xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 397325 cho bà Võ Thị T3 ngày 06/8/2015; thửa đất số 65 tờ bản đồ số 32, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 783825 cho bà Võ Thị T3 ngày 17/12/2015.

2.3. Giá trị di sản thừa kế: Các đương sự yêu cầu chia thừa kế đối với quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất. Riêng đối với các công trình xây dựng trên đất các bên đương sự không yêu cầu giải quyết. Giá trị di sản thừa kế theo Chứng thư thẩm định giá số 259/2023/TĐG-CT ngày 15/9/2023 của Công ty cổ phần T5 là 43.183.185.000 đồng (Bốn mươi ba tỷ một trăm tám mươi ba triệu một trăm tám mươi lăm ngàn đồng), trong đó giá trị quyền sử dụng đất là 43.138.125.000 đồng (Bốn mươi ba tỷ, một trăm ba mươi tám triệu một trăm hai mươi lăm ngàn đồng), cây trồng trên đất là 45.060.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu không trăm sáu mươi ngàn đồng).

2.4. Thời điểm mở thừa kế: Ông Lê T2 và bà Võ Thị T3 chết không để lại di chúc định đoạt tài sản nên di sản của ông T2 và bà T3 được chia thừa kế theo pháp luật với thời điểm mở thừa kế của ông T2 là năm 1993, của bà T3 là năm 2020.

2.5. Chia thừa kế theo pháp luật:

Xem xét công sức đóng góp của bà S, ông H1 trong việc trông nom, gìn giữ khối di sản nên chia cho bà S, ông H2 giá trị tài sản là 1.183.185.000 đồng, cụ thể mỗi người 591.592.500 đồng (Năm trăm chín mươi mốt triệu năm trăm chín mươi hai ngàn năm trăm đồng). Còn lại giá trị khối di sản thừa kế là 42.000.000.000 đồng (Bốn mươi hai tỷ đồng). Hàng thừa kế thứ nhất gồm 07 người nên chia di sản thừa kế trên làm 07 kỷ phần, mỗi kỷ phần có giá trị là 6.000.000.000 đồng (Sáu tỷ đồng) (42.000.000.000 đồng/7). Cụ thể:

Chia cho bà S, bà N, ông H, ông H1 mỗi người 01 kỷ phần tương đương 6.000.000.000 đồng (Sáu tỷ đồng) và các ông bà đồng ý cùng nhận chung 04 kỷ phần tương đương 24.000.000.000 đồng (Hai mươi bốn tỷ đồng). Chia cho bà S, bà N, ông H, ông H1 các thửa 360 tờ bản đồ số 13, thửa số 79 tờ bản đồ số 32, thửa 76 tờ bản đồ số 32, thửa số 65 tờ bản đồ số 32, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai có giá trị là 29.470.515.000 đồng (Hai mươi chín tỉ bốn trăm bảy mươi triệu năm trăm mười lăm ngàn đồng). Bà S, bà N, ông H, ông H1 phải thanh toán lại phần giá trị vượt quá kỷ phần cho những người còn lại là 5.470.515.000 đồng (Năm tỷ bốn trăm bảy mươi triệu năm trăm mười lăm ngàn đồng).

Chia cho ông Lê T thửa số 260 tờ bản đồ số 27, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai có giá trị 4.908.885.000 đồng (Bốn tỷ chín trăm lẻ tám triệu tám trăm tám mươi lăm ngàn đồng). Bà S, bà N, ông H, ông H1 phải có nghĩa vụ thanh toán lại cho ông T số tiền 1.091.115.000 đồng (Một tỷ không trăm chín mươi mốt triệu một trăm mười lăm ngàn đồng) giá trị chênh lệnh tài sản so với kỷ phần được nhận.

Chia cho bà Lê Thị T1 thửa số 8 tờ bản đồ số 35 có giá trị 4.315.500.000 đồng (Bốn tỷ ba trăm mười lăm triệu năm trăm ngàn đồng). Bà S, bà N, ông H, ông H1 phải có nghĩa vụ thanh toán lại cho bà T1 số tiền 1.684.500.000 đồng (Một tỷ sáu trăm tám mươi bốn ngàn năm trăm đồng) giá trị chênh lệnh tài sản so với kỷ phần được nhận.

Chia cho bà Lê Thị Bích L thửa số 6 tờ bản đồ số 35, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai có giá trị 3.305.100.000 đồng (Ba tỷ ba trăm lẻ năm triệu một trăm ngàn đồng). Bà S, bà N, ông H, ông phải có nghĩa vụ thanh toán lại cho bà L số tiền 2.694.900.000 đồng (Hai tỷ sáu trăm chín mươi tư triệu chín trăm ngàn đồng) giá trị chênh lệnh tài sản so với kỷ phần được nhận.

[3]. Về chi phí tố tụng:

Tổng cộng là 169.398.000 đồng (Một trăm sáu mươi chín triệu ba trăm chín mươi tám ngàn đồng), trong đó chi phí thẩm định giá là 160.000.000 đồng (Một trăm sáu mươi triệu đồng), chi phí đo vẽ là 9.398.000 đồng (Chín triệu ba trăm chín mươi tám ngàn đồng). Các đương sự mỗi người được hưởng 1/7 khối di sản nên chi phí tố tụng mỗi người cũng chịu 1/7 là 24.200.000 đồng (Hai mươi bốn triệu hai trăm ngàn đồng). Bà S, bà N, ông H, ông H1, bà T1 và bà L mỗi người phải thanh toán cho ông T số tiền 24.200.000 đồng (Hai mươi bốn triệu hai trăm ngàn đồng).

[4]. Về án phí:

4.1. Bà S, bà N thuộc trường hợp được miễn nộp án phí.

4.2. Ông T phải nộp 114.000.000 đồng (Một trăm mười bốn triệu đồng) tiền án phí nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Ông T phải nộp thêm 109.000.000 đồng (Một trăm lẻ chín triệu đồng).

4.3. Bà T1 bà L, ông H mỗi người phải nộp 114.000.000 đồng (Một trăm mười bốn triệu đồng) tiền án phí.

4.3. Ông H1 phải nộp 114.592.000 đồng (Một trăm mười bốn triệu năm trăm chín mươi hai ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[5]. Đối với quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 203, Điều 217, Điều 218, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 264, Điều 266, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Điều 3, Điều 4, Điều 5, Điều 24, Điều 25 Pháp lệnh chia thừa kế số 44-LCT/HĐNN8 ngày 10/9/1990 của Hội đồng Nhà nước;
  • - Điều 609, Điều 610, Điều 611, Điều 612, Điều 613, Điều 614, Điều 616, Điều 617, Điều 618, Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 660 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê T về về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.
    1. Chia cho bà Lê Thị S, ông Lê Hào p công sức đóng góp trong việc trông nom, gìn giữ khối di sản giá trị tài sản là 1.183.185.000 đồng (Một tỷ một trăm tám mươi ba triệu một trăm tám mươi lăm ngàn đồng), cụ thể mỗi người 591.592.500 đồng (Năm trăm chín mươi mốt triệu năm trăm chín mươi hai ngàn năm trăm đồng).
    2. Giao cho bà Lê S, bà Lê Thị N, ông Lê H và ông Lê H1 sở hữu chung 04 kỷ phần thừa kế và phần công sức đóng góp của bà S, ông H1 gồm: các thửa đất số 360 tờ bản đồ số 13, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BO 002865 cho bà Võ Thị T3 ngày 14/7/2014; thửa đất số 79 tờ bản đồ số 32 xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 397325 cho bà Võ Thị T3 ngày 06/8/2015; thửa đất số 76 tờ bản đồ số 32 xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 783826 cho bà Võ Thị T3 ngày 17/12/2015; thửa đất số 65 tờ bản đồ số 32, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 783825 cho bà Võ Thị T3 ngày 17/12/2015.
    3. Giao cho ông Lê T thửa đất số 260 tờ bản đồ số 27 xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 783824 cho bà Võ Thị T3 ngày 17/12/2015.
    4. Giao cho bà Lê Thị T1 thửa đất số 8 tờ bản đồ số 35, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BO 002864 cho bà Võ Thị T3 ngày 14/7/2014.
    5. Giao cho bà Lê Thị Bích L thửa đất số 6 tờ bản đồ số 35 xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 397328 cho bà Võ Thị T3 ngày 06/8/2015.
    6. Bà Lê Thị S, bà Lê Thị N, ông Lê H và ông Lê H1 phải có nghĩa vụ thanh toán lại phần giá trị vượt quá kỷ phần cho ông Lê T số tiền 1.091.115.000 đồng (Một tỷ không trăm chín mươi mốt triệu một trăm mười lăm ngàn đồng); cho bà Lê Thị T1 số tiền 1.684.500.000 đồng (Một tỷ sáu trăm tám mươi bốn ngàn năm trăm đồng); cho bà Lê Thị L số tiền 2.694.900.000 đồng (Hai tỷ sáu trăm chín mươi tư triệu chín trăm ngàn đồng).
  2. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
  3. Đối với người được giao quyền sử dụng, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại phần quyết định của bản án này có quyền, nghĩa vụ chủ động đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký kê khai quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản đối với diện tích đất hoặc điều chỉnh lại tên chủ sử dụng đất được (giao) chia theo quyết định của bản án và theo quy định của pháp luật.
  4. Về chi phí tố tụng: Bà Lê S, bà Lê Thị N, ông Lê H và ông Lê H1, bà Lê Thị T1, bà Lê Thị Bích L mỗi người phải có nghĩa vụ thanh toán chi phí tố tụng cho ông Lê T số tiền 24.200.000 đồng (Hai mươi bốn triệu hai trăm ngàn đồng).
  5. Về án phí:
    1. Bà Lê Thị S và bà Lê Thị N thuộc trường hợp được miễn nộp án phí.
    2. Ông Lê T phải nộp 114.000.000 đồng (Một trăm mười bốn triệu đồng) tiền án phí nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) theo Biên lai thu số 0001917 ngày 01/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Ông T phải nộp thêm 109.000.000 đồng (Một trăm lẻ chín triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
    3. Bà Lê Thị T1, bà Lê Thị Bích L, ông Lê H mỗi người phải nộp 114.000.000 đồng (Một trăm mười bốn triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
    4. Ông Lê H1 phải nộp 114.592.000 đồng (Một trăm mười bốn triệu năm trăm chín mươi hai ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông H1 vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
  7. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAT;
  • - VKSND huyện Trảng Bom;
  • - THADS huyện Trảng Bom;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Bá Đức

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/DSST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số bản án: 19/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BA - DS - Sỹ - Thật - T5-2024
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger