|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY TỈNH THỪA THIÊN HUẾ Bản án số: 19/2024/DS-ST Ngày: 06 - 11 - 2024. “V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Quý Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Đức Trình.
- Ông Hoàng Quốc Toản.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Khánh Nhạc - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy (Số F đường Đ, phường P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế) xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 71/2024/TLST-DS ngày 24 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2024/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 10 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 60/2024/QSÐST-DS ngày 21 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần V (Viết tắt là V1). Địa chỉ: Số H L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Tuấn A, chức vụ: Phó Giám đốc Trung tâm thu hồi nợ Khách hàng doanh nghiệp và Xử lý nợ pháp lý (Văn bản ủy quyền ngày 07/7/2020).
Người đại diện theo uỷ quyền lại của nguyên đơn: (Văn bản uỷ quyền ngày 02/6/2024).
Ông Trần H, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần V, chi nhánh H2. Địa chỉ: Số C đường L, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
Ông Nguyễn Mạnh S, chức vụ: Trưởng bộ phận Ngân hàng Thương mại cổ phần V, chi nhánh H2. Địa chỉ: Số C đường L, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
Ông Trần Tiến L, chức vụ: Chuyên viên Ngân hàng Thương mại cổ phần V, chi nhánh H2. Địa chỉ: Số C đường L, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
Ông Nguyễn Ngọc S1, chức vụ: Chuyên viên Ngân hàng Thương mại cổ phần V, chi nhánh H2. Địa chỉ: Số C đường L, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
Ông Lê Viết H1, chức vụ: Chuyên viên Ngân hàng Thương mại cổ phần V, chi nhánh H2. Địa chỉ: Số C đường L, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
Bị đơn: Ông Ngô Đắc A1, sinh năm 1995 và bà Nguyễn Thị Mỹ L1, sinh năm 1993. Địa chỉ: Thôn E, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần V trình bày: Ông Ngô Đắc A1 và bà Nguyễn Thị Mỹ L1 vay vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần V – Chi nhánh H2 (Gọi tắc Ngân hàng) theo các hợp đồng và đề nghị với các nội dung cụ thể như sau: Thứ nhất là Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN2011263073940 ký ngày 03/12/2020 với số tiền vay: 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng), thời hạn vay: 60 tháng, mục đích sử dụng vốn: Thanh toán tiền mua xe, phương thức thanh toán: Trả nợ gốc định kỳ 01 tháng/01 lần vào ngày 05 hàng tháng, trả lãi 01 tháng/lần vào ngày 05 hàng tháng, lãi suất trong hạn: Trong khoảng thời gian 12 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên lãi suất cho vay trong hạn là 8%/năm (lãi suất được tính theo năm với một năm là 365 ngày). Sau khoảng thời gian nêu trên lãi suất cho vay sẽ điều chỉnh định kỳ 03 tháng/01 lần vào các ngày 01/01, 01/04, 01/07, 01/10, ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 04/12/2021, ngày điều chỉnh tiếp theo là ngày 01/10/2022 theo lãi suất cơ sở VNĐ của ngân hàng tại thời điểm điiều chỉnh + biên độ 4.6%/năm, lãi suất nợ quá hạn: 150% lãi suất trong hạn. Thứ hai là thẻ tín dụng: Căn cứ vào Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay tiêu dùng cá nhân, vay kinh doanh cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, phát hành và sử dụng thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 25/11/2020. Hạn mức thẻ 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng). Tài sản đảm bảo cho khoản vay nêu trên là: Xe ô tô mang nhãn hiệu HUYNDAI, số máy G4LALM597392, số khung S1DALN053578 mang biển kiểm soát số 75A-202.84 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 036556 do Công An tỉnh T cấp ngày 03/12/2020 đứng tên ông Ngô Đắc A1. Tài sản này đã được thế chấp theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô LN2011263073940 ký ngày 03/12/2020 và đã được đăng ký giao dịch bảo đảm vào ngày 03/12/2020. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Ngô Đắc A1 và bà Nguyễn Thị Mỹ L1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nêu trên nên khoản vay đã chuyển quá hạn từ ngày 05/04/2021, Ngân hàng đã nhiều lần gọi điện, gửi thông báo đôn đốc trả nợ nhưng ông Ngô Đắc A1 và bà Nguyễn Thị Mỹ L1 vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ quá hạn. Vì vậy, Ngân hàng Thương mại cổ phần V khởi kiện ông Ngô Đắc A1 và bà Nguyễn Thị Mỹ L1 ra Tòa án để thu hồi trước hạn đối với toàn bộ khoản nợ vay. Tạm tính đến ngày 06/11/2024, ông Ngô Đắc Al và bà Nguyễn Thị Mỹ L1 còn nợ Ngân hàng số tiền là: 515.961.324 đồng
(Năm trăm mười lăm triệu chín trăm sáu mươi mốt nghìn ba trăm hai mươi bốn đồng). Trong đó: Nợ gốc: 284.985.967 đồng, tiền lãi: 195.740.844 đồng, lãi chậm trả: 35.234.513 đồng. Ngoài ra ông Ngô Đắc A1 và bà Nguyễn Thị Mỹ L1 còn phải chịu khoản tiền phạt chậm trả theo hợp đồng tín dụng và các văn bản liên quan mà ông bà đã ký với bên Ngân hàng. Từ nội dung vụ việc như trên, Ngân hàng Thương mại cổ phần V yêu cầu tòa án buộc ông Ngô Đắc A1 và bà Nguyễn Thị Mỹ L1 phải thanh toán ngay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi và các khoản phát sinh liên quan theo các Hợp đồng tín dụng nêu trên với tổng số tiền tạm tính đến ngày 06/11/2024 là: 515.961.324 đồng (Năm trăm mười lăm triệu chín trăm sáu mươi mốt nghìn ba trăm hai mươi bốn đồng). Trong đó: Nợ gốc: 284.985.967 đồng, tiền lãi: 195.740.844 đồng, lãi chậm trả: 35.234.513 đồng và khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán phát sinh từ ngày 07/11/2024 theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô LN2011263073940 đã ký kết cho đến khi thanh toán xong khoản tiền gốc.
Trường hợp ông Ngô Đắc A1 và bà Nguyễn Thị Mỹ L1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ. Ngân hàng Thương mại cổ phần V có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành xử lý tài sản thế chấp là xe ô tô mang nhãn hiệu HUYNDAI, số khung G4LALM597392, số máy S1DALN053578 mang biển kiểm soát số 75A-202.84 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 036556 do Công An tỉnh T cấp ngày 03/12/2020 đứng tên ông Ngô Đắc A1 để thu hồi nợ, theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô LN2011263073940 ký ngày 03/12/2020 và đã được đăng ký giao dịch bảo đảm vào ngày 03/12/2020. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Ngô Đắc A1 và bà Nguyễn Thị Mỹ L1 phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V.
Bị đơn ông Ngô Đắc A1 và bà Nguyễn Thị Mỹ L1 trình bày: Thừa nhận vào ngày 03/12/2020, ông Ngô Đắc A1 và bà Nguyễn Thị Mỹ L1 có ký hợp đồng với Ngân hàng Thương mại cổ phần V để vay số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) để mua xe ô tô theo hình thức trả góp hàng tháng, với lãi suất 8%/năm. Theo thỏa thuận trong hợp đồng thì ông Ngô Đắc A1 và bà Nguyễn Thị Mỹ L1 có trách nhiệm thanh toán bao gồm gốc và lãi trong vòng 60 tháng, mỗi tháng ông Ngô Đắc A1 và bà Nguyễn Thị Mỹ L1 phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V số tiền là 5.000.000 đồng vào trước hoặc đúng ngày 05 hàng tháng cho đến khi kết thúc hợp đồng. Ngày thanh toán đầu tiên bắt đầu từ 05/01/2021. Sau khi Ngân hàng Thương mại cổ phần V giải ngân thì do tình hình dịch bệnh nên ông Ngô Đắc A1 và bà Nguyễn Thị Mỹ L1 kinh doanh gặp khó khăn, nên ông Ngô Đắc A1 và bà Nguyễn Thị Mỹ L1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V được. Nay Ngân hàng Thương mại cổ phần V khởi kiện ông Ngô Đắc A1 và bà Nguyễn Thị Mỹ L1 yêu cầu phải thanh toán một lần toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V, số tiền tạm tính đến hết ngày 16/12/2023 là 372.010.871 đồng. Ông Ngô Đắc A1 và
bà Nguyễn Thị Mỹ L1 hoàn toàn nhất trí với yêu cầu khởi kiện đó của nguyên đơn và không có ý kiến gì.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quy định pháp luật. Bị đơn vắng mặt một số phiên tòa giải và các phiên tòa là vi phạm Điều 70; Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các quy định pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Ngô Đắc A1 và bà Nguyễn Thị Mỹ L1 phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V tổng số tiền tạm tính đến ngày 06/11/2024 là: 515.961.324 đồng (Năm trăm mười lăm triệu chín trăm sáu mươi mốt nghìn ba trăm hai mươi bốn đồng). Trong đó: Tiền gốc: 284.985.967 đồng, tiền lãi: 195.740.844 đồng, tiền lãi chậm trả: 35.234.513 đồng và khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán phát sinh từ ngày 07/11/2024 theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô LN2011263073940 đã ký kết cho đến khi thanh toán xong khoản tiền gốc.
Trường hợp ông Ngô Đắc A1 và bà Nguyễn Thị Mỹ L1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ. Ngân hàng Thương mại cổ phần V có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành xử lý tài sản thế chấp là xe ô tô mang nhãn hiệu HUYNDAI, số khung G4LALM597392, số máy S1DALN053578 mang biển kiểm soát số 75A-202.84 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 036556 do Công An tỉnh T cấp ngày 03/12/2020 đứng tên ông Ngô Đắc A1 để thu hồi nợ, theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô LN2011263073940 ký ngày 03/12/2020 và đã được đăng ký giao dịch bảo đảm vào ngày 03/12/2020. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Ngô Đắc A1 và bà Nguyễn Thị Mỹ L1 phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V. Bị đơn phải chịu, chi phí tố tụng và án phí dân sự theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Tòa án nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn ông Ngô Đắc A1 và bà Nguyễn Thị Mỹ L1 đã được triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng tại phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Ngô Đắc A1 và bà Nguyễn Thị Mỹ L1.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần V khởi kiện, tranh chấp hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô với bị đơn ông Ngô Đắc A1 và bà Nguyễn Thị Mỹ L1 có nơi cư trú tại: Thôn E, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a
khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử, xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ngày 03/12/2020, ông Ngô Đắc A1 và bà Nguyễn Thị Mỹ L1 đã ký kết với Ngân hàng Thương mại cổ phần V – Chi nhánh H2, Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô để vay số tiền vay: 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng), thời hạn vay: 60 tháng, mục đích sử dụng vốn: Thanh toán tiền mua xe, lãi suất cho vay trong hạn là 8%/năm. Căn cứ Hợp đồng cho vay, hai bên đã thoả thuận phương thức cho vay, số tiền vay, mục đích vay, thời hạn cho vay, kỳ hạn trả nợ gốc và lãi, lãi suất cho vay và chu kỳ thay đổi lãi suất, lãi chậm trả...... tại Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô. Xét chủ thể ký kết, nội dung, hình thức hợp đồng đúng quy định tại Điều 117; Điều 118; Điều 119 Bộ luật Dân sự, Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng nên Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô có hiệu lực buộc các bên phải thực hiện.
Xét bên vay đã vi phạm hợp đồng, không thanh toán đúng hạn, đã quá thời hạn trả nợ nên có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Ngô Đắc Al và bà Nguyễn Thị Mỹ L1 phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V tổng số tiền tạm tính đến ngày 06/11/2024 là: 515.961.324 đồng (Năm trăm mười lăm triệu chín trăm sáu mươi mốt nghìn ba trăm hai mươi bốn đồng). Trong đó: Tiền gốc: 284.985.967 đồng, tiền lãi: 195.740.844 đồng, tiền lãi chậm trả: 35.234.513 đồng và khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán phát sinh từ ngày 07/11/2024 theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô LN2011263073940 đã ký kết cho đến khi thanh toán xong khoản tiền gốc.
Về tài sản thế chấp quyền sử đất:
Xét khi vay tiền của Ngân hàng ông Ngô Đắc A1 và bà Nguyễn Thị Mỹ L1 đã thế chấp tài sản cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V là: Xe ô tô mang nhãn hiệu HUYNDAI, số máy G4LALM597392, số khung S1DALN053578 mang biển kiểm soát số 75A-202.84 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 036556 do Công An tỉnh T cấp ngày 03/12/2020 đứng tên ông Ngô Đắc A1. Tài sản này đã được thế chấp theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô LN2011263073940 ký ngày 03/12/2020 và đã được đăng ký giao dịch bảo đảm vào ngày 03/12/2020. Căn cứ Điều 317; Điều 320 Bộ luật Dân sự; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần V. Trường hợp ông Ngô Đắc Al và bà Nguyễn Thị Mỹ L1 không trả nợ hoặc trả nợ không đủ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần V được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô LN2011263073940 ký ngày 03/12/2020 và đã được đăng ký giao dịch bảo đảm vào ngày 03/12/2020 để thu hồi nợ là chiếc Xe ô tô mang nhãn hiệu HUYNDAI, số máy G4LALM597392, số khung S1DALN053578 mang biển kiểm soát số 75A-202.84 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 036556 do Công An tỉnh T cấp ngày 03/12/2020 đứng tên ông Ngô Đắc A1. Trường hợp sau khi xử tài sản
thế chấp vẫn không đủ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V thì ông Ngô Đắc A1 và bà Nguyễn Thị Mỹ L1 có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V đến khi trả hết nợ.
[3] Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ với chi phí là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Căn cứ Điều 157; khoản 1 Điều 158 Bộ luật tố tụng dân sự; buộc bị đơn ông Ngô Đắc A1 và bà Nguyễn Thị Mỹ L1 phải chịu số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Nguyên đơn đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ; nên buộc bị đơn ông Ngô Đắc A1 và bà Nguyễn Thị Mỹ L1 phải hoàn trả lại số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ trên cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần V.
[4] Về án phí: Nguyên đơn khởi kiện được chấp nhận yêu cầu nên không phải chịu án phí. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị đơn ông Ngô Đắc A1 và bà Nguyễn Thị Mỹ L1 phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 24.638.453 đồng. [Diễn giải 20.000.000 đồng + 4% x (515.961.324 đồng - 400.000.000 đồng) = 24.638.453 đồng].
Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V số tiền tạm ứng án phí đã nộp 9.300.000 đồng (Chín triệu ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 157; khoản 1 Điều 158; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117; Điều 118; Điều 119; Điều 274; khoản 1 Điều 275; Điều 280; Điều 317; Điều 320; Điều 463; khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử:
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Ngô Đắc A1 và bà Nguyễn Thị Mỹ L1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V tổng số tiền tính đến ngày 06/11/2024 là: 515.961.324 đồng (Năm trăm mười lăm triệu chín trăm sáu mươi mốt nghìn ba trăm hai mươi bốn đồng). Trong đó: Tiền gốc: 284.985.967 đồng, tiền lãi: 195.740.844 đồng, tiền lãi chậm trả: 35.234.513 đồng và khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán phát sinh từ ngày 07/11/2024 theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô LN2011263073940 đã ký kết cho đến khi thanh toán xong khoản tiền gốc.
3. Về xử lý tài sản thế chấp: Kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Ngô Đắc A1 và bà Nguyễn Thị Mỹ L1 không trả nợ hoặc trả
nợ không đủ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần V được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô LN2011263073940 ký ngày 03/12/2020 và đã được đăng ký giao dịch bảo đảm vào ngày 03/12/2020 để thu hồi nợ là chiếc Xe ô tô mang nhãn hiệu HUYNDAI, số máy G4LALM597392, số khung S1DALN053578 mang biển kiểm soát số 75A-202.84 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 036556 do Công An tỉnh T cấp ngày 03/12/2020 đứng tên ông Ngô Đắc A1.
Trường hợp sau khi xử tài sản thế chấp vẫn không đủ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V thì ông Ngô Đắc A1 và bà Nguyễn Thị Mỹ L1 có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V đến khi trả hết nợ.
4. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Ngô Đắc A1 và bà Nguyễn Thị Mỹ L1 phải chịu 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Nguyên đơn đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ; nên buộc bị đơn ông Ngô Đắc A1 và bà Nguyễn Thị Mỹ L1 phải hoàn trả lại số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ trên cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần V.
5. Về án phí: Buộc ông Ngô Đắc A1 và bà Nguyễn Thị Mỹ L1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 24.638.453 đồng (Hai mươi bốn triệu sáu trăm ba mươi tám nghìn bốn trăm năm mươi ba đồng).
Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V Thịnh Vượngsố tiền tạm ứng án phí đã nộp 9.300.000 đồng (Chín triệu ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0002812 ngày 24/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Thủy.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án sơ thẩm xét xử công khai báo cho nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án, trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Quý Vân |
Bản án số 19/2024/DS-ST ngày 06/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 19/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần V (Viết tắt là V1). Địa chỉ: Số H L, quận Đ, thành phố Hà Nội. Bị đơn: Ông Ngô Đắc A1, sinh năm 1995 và bà Nguyễn Thị Mỹ L1, sinh năm 1993. Địa chỉ: Thôn E, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Đều vắng mặt.
