Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG


Bản án số: 19/2022/KDTM - PT
Ngày: 30 – 6 – 2022
V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
_________________________

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Hiếu;
  • Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thanh Mai; Ông Vũ Việt Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Kiều Trang, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng: Bà Nguyễn Thị Tú Anh - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong các ngày 22 tháng 6 năm 2022 và 30 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 10/2022/TLPT-KDTM ngày 09 tháng 3 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”.

Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 01/2022/KDTM - ST ngày 25 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2022/QĐ-PT ngày 09 tháng 5 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số: 68/2022/QĐ-PT ngày 26 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Công ty TNHH K.
    Trụ sở: Số 118 đường L, phường A, quận C, thành phố Đà Nẵng.
    Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị T, chức vụ: Giám đốc Công ty.
    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Văn P, sinh năm 1958; trú tại: 139/7 đường V, phường B, quận K, Tp Đà Nẵng.
  2. Bị đơn: Ông Phạm Phú P1, sinh năm 1974; Địa chỉ: K294/41B đường C, phường D, quận H, thành phố Đà Nẵng.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Mai Thị Kim C, Bà Nguyễn Thị H, Bà Phạm Thị Thanh T2, Ông Phạm Ngọc M.
  4. Người làm chứng: Ông Phan Văn L, Bà Nguyễn Thị Thảo H2, Ông Lê B.
  5. Người kháng cáo: Ông Phạm Phú P1, là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày: Tháng 8 năm 2020, Công ty TNHH K và ông Phạm Phú P1 thỏa thuận về việc thiết kế và sản xuất đơn hàng hộp, nhãn. Hai bên thống nhất số lượng đơn hàng với tổng số tiền là 299.261.500đ. Công ty K đã giao đủ hàng nhưng ông P1 mới thanh toán một phần, còn nợ lại số tiền lớn. Tại cấp sơ thẩm, nguyên đơn yêu cầu ông P1 thanh toán 100.000.000đ.

Bị đơn ông Phạm Phú P1 thừa nhận có giao dịch nhưng cho rằng giá cả Công ty K đưa ra không đúng thỏa thuận ban đầu (lấy giá theo cơ sở tại TP. Hồ Chí Minh). Ông P1 chỉ chấp nhận nợ số tiền 7.300.000đ.

Bản án sơ thẩm số 01/2022/KDTM-ST ngày 25/01/2022 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đã tuyên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện, buộc ông P1 trả cho Công ty K 100.000.000đ. Ông P1 kháng cáo bản án này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ các đương sự nhưng một số người vắng mặt, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định.

[2] Về nội dung: Xét thấy giữa hai bên không ký hợp đồng văn bản nhưng có trao đổi qua Zalo. Sau khi xem xét các chứng cứ và tin nhắn, có cơ sở xác định hai bên có thỏa thuận về giá dựa trên báo giá của cơ sở tại TP. Hồ Chí Minh sau khi đã giao hàng. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Công ty K tự nguyện giảm yêu cầu thanh toán xuống còn 80.000.000đ. Ông P1 tự nguyện trả 30.000.000đ nhưng không được phía nguyên đơn chấp nhận mức này.

[3] Hội đồng xét xử xét thấy việc nguyên đơn tự nguyện giảm mức yêu cầu xuống 80.000.000đ là có lợi cho bị đơn và phù hợp với diễn biến vụ án, nên cần chấp nhận sự tự nguyện này và sửa một phần bản án sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Thương mại; Nghị quyết về án phí.

Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Phú P1; Sửa một phần Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 01/2022/KDTM - ST ngày 25/01/2022 của Tòa án nhân dân quận H, thành phố Đà Nẵng.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH K đối với ông Phạm Phú P1. Buộc ông Phạm Phú P1 phải trả cho Công ty TNHH K số tiền là 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng).
  2. Về án phí: Ông Phạm Phú P1 phải chịu 4.000.000đ án phí KDTM sơ thẩm và 2.000.000đ án phí KDTM phúc thẩm.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND TP. Đà Nẵng;
- Cục THADS TP. Đà Nẵng;
- Tòa án nhân dân quận C;
- Chi cục THADS quận C;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




(đã ký)

Cao Văn Hiếu
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2022/KDTM - PT ngày 30/06/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 19/2022/KDTM - PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2022
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty K khởi kiện ông P1 tại Tòa án nhân dân quận H đề nghị Tòa án buộc ông P1 phải trả số tiền còn nợ là 199.261.500đ. Công ty K không yêu cầu ông P1 phải trả lãi chậm thanh toán.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger