Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ YÊN

Bản án số: 19/2022/DS-ST
Ngày: 24/6/2022
V/v “tranh chấp quyền sử dụng đất, chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất, hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Uyên; 2. Ông Võ Chùm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Đẳng – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 47/2019/TLST-DS ngày 28/6/2019 về việc: “tranh chấp quyền sử dụng đất, chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất, hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2021/QĐXXST-DS ngày 05/11/2021 giữa:

  1. Nguyên đơn: Ông Thái Văn T, sinh năm 1962; Nơi cư trú: Thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên tòa.
  2. Bị đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1928; Nơi cư trú: Thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên tòa.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Trần Thị Như Th, Văn phòng luật sư D, Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên tòa.

3. Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:

  • 3.1. UBND huyện T, tỉnh Phú Yên. Có văn bản đề nghị vắng mặt.
  • 3.2. UBND xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
  • 3.3. Bà Đàm Thị Đ, sinh năm 1930 (đã chết ngày 12/5/2022); quá trình tố tụng ủy quyền cho ông Thái Văn T.
  • 3.4. Ông Nguyễn Thế M, sinh năm 1955;
  • 3.5. Anh Nguyễn Thái L, sinh năm 1979;
  • 3.6. Anh Nguyễn Thế C, sinh năm 1983;
  • 3.7. Anh Nguyễn Thế V, sinh năm 1984; Ủy quyền cho bà Lê Thị H (GUQ ký ngày 25/11/2021).
  • 3.8. Chị Thái Thị Hồng T1, sinh năm 1989;
  • 3.9. Chị Thái Thị Thanh T2, sinh năm 1992;
  • 3.10. Anh Thái Văn T3, sinh năm 1994;
  • 3.11. Bà Ngô Thị L, sinh năm 1963;

Cùng trú tại: Thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên. Ông M, anh L, anh C, anh V, chị T1 vắng mặt. Chị T2, anh T3, bà L có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện ngày 31/5/2019, quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa nguyên đơn ông Thái Văn T trình bày: Năm 1975, mẹ tôi (bà Đàm Thị Đ) khai phá một mảnh đất để ở tại Thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên. Năm 1978, mẹ tôi xây chuồng bò và cất quán để buôn bán trên đó. Đến năm 1985, mẹ tôi xây nhà để ở và sau đó xây tường rào gạch xi măng kiên cố. Năm 1996, gia đình tôi được chính quyền cấp GCNQSDĐ số 00873 ngày 18/9/1998 diện tích 7.234 m2. Diện tích đất tranh chấp 104m2 không nằm trong sổ đỏ của tôi mà nằm trong sổ đỏ của bà H mà tôi không hay biết. Vì vậy tôi khởi kiện yêu cầu bà Lê Thị H chấm dứt hành vi cản trở QSDĐ của gia đình tôi, hủy một phần GCNQSDĐ số 00847 ngày 18/9/1998 do UBND huyện T cấp cho bà Lê Thị H, công nhận diện tích đất tranh chấp của gia đình tôi.

2. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Lê Thị H trình bày: Diện tích đất tranh chấp do tôi và cha tôi khai hoang, diện tích đất này nằm trong sổ đỏ của gia đình tôi. Năm 1982, nhà của bà Đ bị cháy nên bà Đ có qua nhà tôi xin ở nhờ. Vì là dì cháu ruột nên tôi đồng ý cho bà Đ dựng nhà ở nhờ trên đất. Yêu cầu Tòa công nhận diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của tôi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Diện tích đất tranh chấp 104m2 thực tế đo đạc là 88,3m2. Căn cứ nguồn gốc và quá trình sử dụng đất, gia đình ông T đã sử dụng ổn định, xây dựng công trình kiên cố từ trước năm 1993 mà không bị tranh chấp. Việc cấp GCNQSDĐ cho hộ bà H bao trùm lên diện tích gia đình ông T đang sử dụng là có sai sót trong quá trình đo đạc bản đồ địa chính năm 1996.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 34, 147, 157, 165, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 32 Luật tố tụng hành chính; các quy định của Luật Đất đai.

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Thái Văn T. Hộ gia đình Thái Văn T có quyền sử dụng đối với diện tích đất 88,3m2 (trong đó có 65,9m2 thuộc HLGT) thuộc thửa số 141, trên đất có các công trình nhà tạm, chuồng bò, tường rào.
  2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Thái Văn T về việc hủy một phần GCNQSDĐ số 00847 ngày 18/9/1998 cấp cho hộ bà Lê Thị H vì diện tích đất tranh chấp thực tế không nằm trong ranh giới GCNQSDĐ này sau khi đối chiếu bản đồ.
  3. Về chi phí thẩm định tại chỗ, định giá là 7.000.000đ: mỗi bên chịu 1/2.
  4. Về án phí: Bà Lê Thị H phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Nơi nhận:
- TAND cấp cao tại Đà Nẵng(2);
- VKSND tỉnh Phú Yên(2);
- Cục THADS tỉnh Phú Yên;
- P.NVKT;
- Các đương sự;
- Lưu AV, Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ




Vũ Ngọc Hà
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2022/DS-ST ngày 24/06/2022 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất, chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 19/2022/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất, chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất, hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2022
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: nguyên đơn yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất hiện nguyên đơn đang thực tế sử dụng nhưng bị đơn cho rằng đất thuộc quyền sử dụng của họ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger