Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG
TỈNH SÓC TRĂNG

Bản án số: 19/2021/HNGĐ-ST
Ngày 14-4-2021
V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Huỳnh Phước
  • Ông Hà Văn Châu

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Quốc Thắng – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Đồ Ngọc Tuyền – Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 22/2021/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 01 năm 2021 về tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 03 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Tuyết M, sinh năm 1981 (có mặt)

Địa chỉ: Số M đường L, khóm B, phường S, thành phố P, tỉnh Sóc Trăng.

Chỗ ở hiện nay: Số B đường M, khóm N, phường B, thành phố P, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Ông Võ Thanh T, sinh năm 1982 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số C đường T, khóm M, phường T, thành phố P, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 18 tháng 01 năm 2021, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thị Tuyết M trình bày:

Bà và ông Võ Thanh T kết hôn có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 165, quyển số 01/2011, ngày 11/11/2011. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng bất đồng quan điểm, mâu thuẫn về kinh tế, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, ông T có quan hệ với người phụ nữ khác bên ngoài, gia đình hai bên có hòa giải nhưng không có kết quả, bà và ông T đã sống ly thân với nhau từ năm 2019 đến nay.

Quá trình chung sống bà và ông T có một người con chung tên Võ Minh K (nam, sinh ngày 18/12/2013) hiện cháu K đang sống chung với bà, không có tạo lập được tài sản chung và không có nợ chung.

Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Võ Thanh T.

Về con chung: Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng người con chung tên Võ Minh K (nam, sinh ngày 18/12/2013) đến khi cháu K đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Thị Tuyết M tự khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

- Bị đơn ông Võ Thanh T từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay đều vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến gì.

- Ý kiến của kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tại phiên tòa: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Tuyết M, về quan hệ hôn nhân của bà Trần Thị Tuyết M và ông Võ Thanh T không vi phạm các điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P, tỉnh Sóc Trăng theo quy định tại Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Thời gian đầu bà M, ông T chung sống hạnh phúc nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân giữa ông T và bà M bất đồng về quan điểm sống, mâu thuẫn về kinh tế, dẫn đến cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Gia đình hai bên có hòa giải, hàn gắn tình cảm cho ông T và bà M nhưng không có kết quả. Tại tòa bà M xác định không còn tình cảm với ông T, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không còn khả năng hàn gắn, cuộc sống chung vợ chồng không còn hạnh phúc và kiên quyết xin ly hôn với ông T. Đồng thời, từ năm 2019 đến nay bà M và ông T đã sống ly thân không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Nhận thấy, tình trạng hôn nhân giữa các bên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà M được ly hôn với ông T.

[2] Về con chung: Bà M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng người con chung tên Võ Minh K (nam, sinh ngày 18/12/2013) đến khi cháu K đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tại biên bản ghi nhận ý kiến cháu K ngày 18/02/2021, cháu có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Xét thấy, cháu K từ khi sinh ra đến nay đều do bà M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Xuất phát từ mọi lợi ích của cháu K, tránh xáo trộn môi trường sống ảnh hưởng đến tâm lý của cháu K. Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà M được tiếp tục nuôi dưỡng cháu K đến khi cháu đủ 18 tuổi.

[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà M không yêu cầu ông T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Thị Tuyết M tự khai không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[5] Như đã phân tích nêu trên, Kiểm sát viên về nội dung vụ án là có cơ sở chấp nhận.

[6] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thị Tuyết M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 5; Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điều 273; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng: Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trần Thị Tuyết M và ông Võ Thanh T.
  2. Về con chung: Giao con chung tên Võ Minh K (nam, sinh ngày 18/12/2013) hiện đang sống chung với bà M tại số B đường M, khóm N, phường B, thành phố P, tỉnh Sóc Trăng cho bà bà Trần Thị Tuyết M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu K đủ 18 tuổi và ông Võ Thanh T không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Ông Võ Thanh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 mà không ai được cản trở.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Thị Tuyết M tự khai không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thị Tuyết M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005040 ngày 19/01/2021 của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố P, tỉnh Sóc Trăng; bà Trần Thị Tuyết M đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ông Võ Thanh T không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
  5. Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Sóc Trăng;
- VKSNDTPST;
- Chi cục THADSTPST;
- Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P, tỉnh Sóc Trăng;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA


(Đã ký)


Huỳnh Thị Bích Tuyền
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2021/HNGĐ-ST ngày 14/04/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng về tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 19/2021/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BA TRAN THI TUYET M - VO THANH T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger