Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PT, TP HÀ NỘI

Bản án số: 19/2021/HNGĐ-ST
Ngày 07 - 07 - 2021
V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PT- THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đặng Thị Bích Loan
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    • Bà Nguyễn Thu Hương
    • Ông Nguyễn Văn Học
  • - Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Hải Uyến, Thư ký Toà án nhân dân huyện PT, Thành phố Hà Nội.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PT, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Khuất Thu Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 07 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện PT, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 35/2021/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 03 năm 2021 về việc Tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2021/QĐXXST- HNGĐ ngày 07 tháng 06 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2021/QĐST- HNGĐ ngày 22/06/2021, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1996; có mặt
    Quê quán: Xóm Tân Diên, Xã ĐV, huyện TK, tỉnh NA
    ĐKHKTT: Thôn Thuần Mỹ, xã TML, huyện PT, Thành phố Hà Nội
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Tiến Q, sinh năm 1987; vắng mặt.
    Địa chỉ: Thôn Thuần Mỹ, xã TML, huyện PT, Thành phố Hà Nội

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn và các bản tự khai tiếp theo tại Toà án, Chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị đăng ký kết hôn cùng Anh Nguyễn Tiến Q vào ngày 30/10/2015 tại Ủy ban nhân dân xã ĐV, huyện TK, tỉnh NA. Lý do mà vợ chồng chị đăng ký kết hôn tại đây là do thời gian đó chị và anh Q đang làm ăn tại đây. Việc đăng ký kết hôn do hai bên tự nguyện. Sau khi hai bên gia đình tổ chức cưới theo phong tục tập quán thì chị và anh Q về sống chung cùng gia đình anh Q tại thôn Thuần Mỹ, xã TML, huyện PT, sau đó chị đăng ký hộ khẩu cùng gia đình anh Q. Quá trình sống chung thời gian đầu hạnh phúc, đến năm 2017 phát sinh mâu thuẫn vợ chồng, nguyên nhân do chị phát hiện anh Q có nhiều tính xấu, có lần anh Q lấy tiền của chị, khi chị hỏi thì anh Q không nhận, sau một vài lần như vậy, chị đã thử kiểm tra và biết chắc chắn anh Q lấy tiền nên từ đó chị không còn tôn trọng anh Q nữa và vợ chồng sống chung không còn tình cảm. Vì vậy, chị buồn chán và đi làm công nhân tại một công ty Sam Sung ở tỉnh Thái Nguyên từ tháng 3 năm 2017. Đến cuối năm 2017, anh Q có tìm đến công ty nơi chị làm và xin lỗi nên chị bỏ qua và anh Q sống chung cùng chị tại Thái Nguyên. Thời gian này, chị vẫn đi làm ở công ty, còn anh Q làm nghề chở xe ôm. Khoảng tháng 5 năm 2018, chị có thai được một tháng thì lại phát hiện anh Q lấy tiền của chị nên vợ chồng xẩy ra mâu thuẫn trầm trọng và anh Q bỏ đi không sống chung cùng chị nữa. Khoảng 2 tháng, chị gọi điện cho anh Q để thông báo về việc chị có thai nhưng anh Q không quan tâm. Tháng 4 năm 2019 chị về sống chung cùng mẹ đẻ tại NA và sinh con tại đây. Sau khi chị sinh con được 3 tháng thì anh Q vào xin lỗi đồng thời đón mẹ con chị về nhà anh Q ở, được khoảng 2 tháng thì vợ chồng lại xẩy ra mâu thuẫn. Do chị và anh Q đã có quá nhiều lần xẩy ra mâu thuẫn nên chị xác định không thể tiếp tục sống chung cùng anh Q được nữa, vì vậy chị về nhà mẹ đẻ ở từ khoảng tháng 10 năm 2019, từ đó đến nay chị và anh Q sống ly thân nhau, không ai quan tâm đến ai nữa. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Q được ly hôn.

Việc anh Q không đến Tòa án để giải quyết là gây khó khăn cho chị, anh Q đi đâu làm gì chị không biết nên đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Chị và anh Q có 01 con chung là Nguyễn Tiến D, sinh ngày 28/04/2019. Hiện nay cháu đang sống chung cùng chị. Sau khi ly hôn chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được nuôi con và chị không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ: Chị xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Biên bản lấy lời khai của bà Nguyễn Thị T là mẹ đẻ anh Q, trình bày: Khoảng năm 2015 gia đình bà tổ chức cưới vợ cho con trai bà là Nguyễn Tiến Q lấy Chị Nguyễn Thị H. Quá trình sống chung vợ chồng anh Q, chị H đã xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do làm ăn thua lỗ nên xẩy ra cãi nói nhau. Từ tháng 10 năm 2019 cho đến nay chị H và anh Q sống ly thân nhau và chị H xin ly hôn anh Q. Hiện nay, anh Q không có nhà, anh Q làm gì ở đâu bà không biết.

Xác minh tại Công an xã TML được biết: Anh Nguyễn Tiến Q đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Thuần Mỹ, xã TML, huyện PT. Công an xã TML có nhận được Quyết định truy nã số 30 ngày 19/11/2019 của Công an quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội đối với Anh Nguyễn Tiến Q về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định: Chị Nguyễn Thị H và Anh Nguyễn Tiến Q kết hôn hợp pháp. Tuy nhiên quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh Q hiện đang bị truy nã và không có mặt tại địa phương. Căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị H.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

  • + Chị Nguyễn Thị H được ly hôn Anh Nguyễn Tiến Q.
  • + Về con chung: Giao cháu Nguyễn Tiến D, sinh ngày 28/04/2019 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh Q cho đến khi có yêu cầu mới.
  • + Về tài sản chung và nợ: Chị Nguyễn Thị H xác định không có nên không yêu cầu giải quyết.
  • + Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.
Nơi nhận:
- TAND thành phố Hà Nội;
- VKSND huyện PT;
- THADS huyện PT;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ vụ án.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà




Đặng Thị Bích Loan
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2021/HNGĐ-ST ngày 07/07/2021 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PT, TP HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 19/2021/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/07/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PT, TP HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger