Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2024/HS-PT

Ngày: 19/11/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Cao Việt Hoàng;

Các thẩm phán: ông Nguyễn Hữu Hòa và bà Vương Thị Hà.

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hồng Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: bà Thân Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu thành phần Trại tạm giam công an tỉnh B, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 110/2024/TLPT-HS ngày 27 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Công N do có kháng cáo của bị cáo và kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 77/2024/HS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

  • * Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Công N, sinh năm 1981;

    HKTT: tổ dân phố B, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nơi ở hiện tại: xóm N, xã M, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Công S (đã chết) và con bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1955; có vợ là Trần Thị L, sinh năm 1978; có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2012; gia đình có 3 anh em, bị cáo là con thứ 2; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/3/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại điểm cầu thành phần.

  • * Bị hại có kháng cáo: chị Nguyễn Thị T;

    sinh năm: 1985; HKTT: thôn Đ, xã N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại điểm cầu trung tâm.

  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Nguyễn Thị V;

    sinh năm: 1955; HKTT: xóm N, xã M, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.

  • * Người tham gia tố tụng khác:

    1. Ông Nguyễn Hữu B - Cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại điểm cầu trung tâm.

    2. Cán bộ Trại tạm giam - Công an tỉnh B. Có mặt tại điểm cầu thành phần.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chị T có mối quan hệ quen biết với bị cáo Nguyễn Công N. Qua nhiều lần nói chuyện, chị T kể với bị cáo là mình có con trai Nguyễn Xuân C, sinh năm 2004 trú tại Đ, N, T, Bắc Ninh đang bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H khởi tố điều tra về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Nghe vậy bị cáo nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền của chị T nên tự giới thiệu mình có nhiều mối quan hệ quen biết với những người làm trong cơ quan tiến hành tố tụng huyện V, tỉnh Hưng Yên. Bị cáo có thể lo cho cháu C được hưởng án treo. Ngày 13/11/2023, Chủ vẫn bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên truy tố về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Do biết lịch xét xử vụ án vào ngày 18/12/2003, lo sợ con trai mình bị đi tù, tin tưởng lời nói của N nên khoảng 09 giờ ngày 06/12/2013, chị T nhờ anh Đỗ Văn Đ, sinh năm 2001 trú tại P, xã N, thị xã T chở đến nhà bị cáo. Khi đến, chị T đặt vấn đề nhờ bị cáo. N đồng ý nên đã yêu cầu chị T chuyển 70 triệu đồng vào số tài khoản của bị cáo. Chị T đồng ý. Bị cáo cung cấp số tài khoản 26510002109457 tại ngân hàng B2 cho chị T. Sau đó, chị T sử dụng số tài khoản 2607205298790 của mình mở tại ngân hàng A chi nhánh T1 chuyển số tiền 70 triệu đồng theo yêu cầu của N với nội dung giao dịch “em gửi nho anh no cho chau”, nghĩa là chị T chuyển tiền nhờ bị cáo chạy án treo cho Nguyễn Xuân C. Sau khi nhận tiền, bị cáo không lo giúp gì cho chị T mà ăn tiêu hết.

Ngày 18/12/2023, Nguyễn Xuân C bị Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên xét xử 03 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 2, Điều 318 Bộ luật Hình sự. Sau đó, bị cáo vẫn tiếp tục lừa chị T rằng mình có mối quan hệ quen biết với người đang công tác tại Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên. Bị cáo tiếp tục hứa hẹn sẽ lo cho C được hưởng án treo tại tòa án cấp phúc thẩm.

Đến ngày 26/02/2024, bị cáo tiếp tục lấy lý do cần thêm tiền để lo chạy án ở cấp phúc thẩm và yêu cầu chị T đưa thêm số tiền 40 triệu đồng. Chị T nhờ anh Nguyễn Văn B1, sinh năm 1979 ở cùng thôn lái xe đưa đến gặp N tại khu vực phường H, thị xã T để trực tiếp đưa số tiền 40 triệu đồng tiền mặt theo yêu cầu của bị cáo. Tổng số tiền bị cáo nhận 2 lần của chị T là 110.000.000 đồng và ăn tiêu hết.

Bản án sơ thẩm của tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên xét xử đối với Nguyễn Xuân C có hiệu lực pháp luật. Căn cứ kết quả ủy thác thi hành án ngày 21/02/2024, Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh ra quyết định thi hành án phạt tù đối với Nguyễn Xuân C. Sau đó, chị T nhiều lần đòi tiền nhưng bị cáo không trả mà liên tục khất nợ để trốn tránh không trả tiền cho chị T.

Ngày 02/3/2024, chị T đã làm đơn trình báo gửi đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T, tỉnh Bắc Ninh đề nghị xử lý Nam theo quy định của pháp luật.

Ngày 06/3/2024, bị cáo đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T, tỉnh Bắc Ninh đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Ngày 06/3/2023, bị cáo tự nguyện nộp số tiền 10 triệu đồng để bồi thường cho chị T. Số tiền được tạm giữ tại tài khoản Công an thị xã T mở tại Kho bạc nhà nước thị xã T.

Với nội dung trên, Bản án hình sự sơ thẩm số 77/2024/HS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Công N 04 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 06/3/2024.

Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Nguyễn Công N phải bồi thường trả chị Nguyễn Thị T 110.000.000 đồng, được trừ vào số tiền 10.000.000 đồng mà bị cáo đã nộp khắc phục hậu quả tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành. Bị cáo Nguyễn Công N còn tiếp tục phải bồi thường cho chị T 100.000.000 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 21/8/2024, bị cáo Nguyễn Công N có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 22/8/2024, bị hại chị Nguyễn Thị T có đơn kháng cáo tăng nặng trách nhiệm hình sự và tăng mức bồi thường trách nhiệm dân sự lên 200 triệu đồng đối với bị cáo Nguyễn Công N.

Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bà V (mẹ bị cáo) cung cấp Biên lai thu tiền số 0002379 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh thể hiện bị cáo nộp 100.000.000 đồng để bồi thường cho bị hại; 01 giấy chứng nhận thương binh và 01 huy chương kháng chiến hạng nhất của ông Nguyễn Công S là cha đẻ bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Nguyễn Công N giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo trình bày đã đưa tiền cho một người tên D nhưng không có chứng cứ gì chứng minh. Bị cáo xin chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Số tiền 100.000.000 đồng bồi thường cho bị hại là của bị cáo, mẹ bị cáo nộp thay cho bị cáo. Mong Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị hại là bà Nguyễn Thị T rút toàn bộ kháng cáo và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho rằng mức hình phạt 04 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp. Tuy nhiên, tại giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo nộp thêm 100.000.000 đồng để bồi thường cho bị hại; bố bị cáo là người có công với cách mạng; tại phiên tòa, bị hại rút kháng cáo đồng thời có ý kiến giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đây là những tình tiết mới ở giai đoạn phúc thẩm, nên đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, sửa một phần Bản án sở thẩm về hình phạt theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đối với việc bị hại rút toàn bộ kháng cáo là hoàn toàn tự nguyện nên đề nghị HĐXX chấp nhận và không xem xét gì thêm.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm c khoản 2 Điều 174; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Công N từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 06/3/2024.

Bị cáo Nguyễn Công N không tranh luận gì thêm, chỉ đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại Nguyễn Thị T không có ý kiến tranh luận gì. Đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án, các cơ quan và những người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, không bị khiếu nại. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, bị cáo Nguyễn Công N và bị hại là bà Nguyễn Thị T có kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

  2. [2] Về tội danh: Căn cứ lời khai của bị cáo, bị hại và các tài liệu, chứng cứ cứ khác có trong hồ sơ vụ án, HĐXX kết luận: Nguyễn Công N không có chức năng, nhiệm vụ gì trong cơ quan pháp luật, không liên quan gì đến vụ án Nguyễn Xuân C bị Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên xét xử nhưng N đã lợi dụng lòng tin của chị Nguyễn Thị T, đưa ra thông tin gian dối là mình có mối quan hệ quen biết với người trong cơ quan pháp luật, có thể lo lót, chạy án cho Nguyễn Xuân C (con chị T) được hưởng án treo. Vào các ngày 06/12/2023 và 26/02/2024, tại khu phố H, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh, chị T đã chuyển cho N số tiền 110 triệu đồng. Sau khi nhận tiền, N không lo giúp gì như thỏa thuận với chị T mà đã tiêu xài cá nhân hết. Do đó, Bản án sơ thẩm số 77/2024/HS-ST ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh xử phạt bị cáo Nguyễn Công N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

  3. [3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, HĐXX thấy Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt 04 năm tù đối với bị cáo N là phù hợp. Tuy nhiên, tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bà V (mẹ bị cáo N) nộp Biên lai thu tiền số 0002379 ngày 19/8/2024 của Chi cục thi hành dân sự thị xã T thể hiện bị cáo nộp 100.000.000 đồng để thi hành Bản án sơ thẩm số 77/2024/HS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành; Giấy chứng nhận thương binh và Huy chương kháng chiến hạng nhất của cha đẻ bị cáo; tại phiên tòa, bị hại cũng đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do đó bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

  4. [4] Đối với việc bị hại rút toàn bộ kháng cáo, xét thấy yêu cầu hoàn toàn tự nguyện nên HĐXX chấp nhận và không xem xét gì thêm.

  5. [5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

  6. [6] Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Công N được chấp nhận nên bị cáo N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; bị hại rút toàn bộ kháng cáo nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Công N, sửa Bản án sơ thẩm.

    Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 347 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

    Xử phạt Nguyễn Công N 03 (Ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 06/3/2024.

  2. Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Công N 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 19/11/2024 để đảm bảo thi hành án.

  3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

  4. Bị cáo Nguyễn Công N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; bị hại Nguyễn Thị T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại cho chị T 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo Biên lai số 0001416 ngày 22/8/2024 của Chi cục thi hành án thị xã Thuận Thành.

  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Phòng PC 10-CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - CQĐT; VKS; TAND; THA Thị xã Thuận Thành;
  • - Trại tạm giam công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo; Người TGTT;
  • - Lưu HSVA.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Việt Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HS-PT ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về hình sự phúc thẩm (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 65/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN CÔNG N PHẠM TỘI LỪA ĐẢO CHIỂM ĐOẠT TÀI SẢN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger