Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 189/2024/HSST

Ngày: 29/7/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Định.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Mai Thị Tám.
  2. Ông Thái Văn Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Quang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Đồng Quang Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 184/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 189/2024/QĐXXST-HS ngày 18/7/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Tấn H, sinh năm 1994, giới tính: Nam; Nơi thường trú: Tổ E, Ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Ấp C, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 08/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Tấn Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị P; Anh chị em ruột: Không có; Bị cáo chưa có vợ.

Tiền án và tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2018, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi ra Quyết định áp dung biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng theo Quyết định số 07/QĐ-TA ngày 15/01/2018, chấp hành tại Cơ sở cai nghiện ma túy P1. Ngày 16/07/2019 bị cáo chấp hành xong.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 15/01/2024 cho đến nay, hiện có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

  1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1976.
  2. Địa chỉ: Số D đường T, tổ F, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, (có mặt).

  3. Ông Cao Minh T1, sinh năm 1977.
  4. Địa chỉ: Số D đường T, tổ F, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài nên khoảng 00 giờ ngày 13/01/2024, Nguyễn Tấn H đi xe ôm từ Long An đến khu vực kênh Đ thuộc xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nhằm mục đích tìm tài sản để trộm cắp. H đi bộ trên đường T rồi rẽ vào hẻm S thì thấy bên trái có căn nhà số D đường T, ấp T, xã T, huyện C của bà Nguyễn Thị T là chủ sở hữu có cổng cửa lùa chỉ móc ổ khóa bên trong nhưng không khóa. Nhìn vào bên trong sân có dựng 01 chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius màu đen, biển số 59T2-648.16, H liền mở ổ khóa rồi đẩy cửa cổng vào trong, tiến tới căn phòng bên phải có cửa lùa bằng nhôm đang hé mở. Khi vào phòng thấy có 01 người đang ngủ nên H lục soát trong ba lô để đầu giường lén lút lấy trộm 01 cái laptop hiệu Dell, 01 cái laptop hiệu HP và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro màu trắng trên bàn rồi đi ra khỏi phòng. Tiếp tục tiến tới cửa sau cũng chỉ có móc chìa không khóa cửa, H lùa cửa đi vào. Khi vào thì thấy trong phòng không có ai, lúc này H lấy trộm 03 cái bóp da trên giường và lấy 01 sợi dây chuyền vàng trong cái rổ để trên bàn gỗ. Tiếp tục đi lên phòng khách của căn nhà, lúc này thấy có 03 người đang ngủ dưới nền gạch, H lén lút lấy 01 cái điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A13 màu đen trên bàn gỗ. Sau khi lấy được tài sản, H lấy 01 cái ba lô vứt hết sách vở bên trong rồi sử dụng để đựng tài sản trộm cắp được. Khi ra phía trước sân H còn chiếm đoạt thêm 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius màu đen, biển số 59T2-648.16. Đi được khoảng 100m ra đến cầu tại kênh Đ thuộc ấp T, xã T, huyện C, H dừng lại dùng tay kéo yên xe gắn máy, tay kia đưa vào cốp kiểm tra phát hiện được 01 cái bóp và 01 chìa khóa xe (chìa khóa dự phòng). Kiểm tra trong bóp thì thấy có tiền tổng 2.500.000 đồng và một số giấy tờ tùy thân. H lấy tiền, để lại giấy tờ trong ví rồi đứng trên cầu vứt xuống. Tiếp tục kiểm tra 03 cái bóp vừa trộm được thì phát hiện trong bóp thứ nhất có khoảng 8.000.000 đồng, bóp thứ 2 có khoảng 3.200.000 đồng, bóp thứ 3 chỉ có giấy tờ tùy thân. H lấy hết tiền rồi vứt 03 bóp cùng giấy tờ tại đây. Sau đó, H điều khiển xe gắn máy vừa trộm được tẩu thoát về hướng tỉnh Long An. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, H bán sợi dây chuyền vàng trộm được tại tiệm V tại số A ô C, khu A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An do bà Nguyễn Kim X làm chủ được số tiền 2.300.000 đồng. Sau đó, H nhờ Lê Trường G (Sinh năm 1987) bán giúp xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius màu đen vừa trộm được cho một người đàn ông (Không rõ lai lịch) tại huyện Đ, tỉnh Long An. Người đàn ông này hỏi mua thêm cả Laptop, H nói khi bán xe sẽ cho thêm 01 Laptop hiệu HP. Sau đó H điều khiển xe chở G đến nơi hẹn tại huyện Đ, tỉnh Long An (không rõ địa chỉ) và bán xe được số tiền 8.500.000 đồng, hình thức giao dịch chuyển tiền qua tài khoản Ngân hàng H1 mang tên Nguyễn Tấn H. H trả công cho G số tiền 2.000.000 đồng, số tiền bán xe H rút hết ra dùng vào việc chơi game và tiêu xài cá nhân. H tiếp tục nhờ Trịnh Thanh N (Sinh năm 1990) bán giúp 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro màu trắng, H và N hẹn gặp tại ngã 4 gần công viên trên đường ĐT 823 thuộc ô G, khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An. H đưa cho N chiếc điện thoại di động và 01 Laptop hiệu Dell. H nhờ N bán giúp điện thoại và trả công cho N bằng laptop. Nguyên bán được điện thoại với giá 2.500.000 đồng nhưng do đang cần tiền nên H cho N thêm 2.000.000 đồng nữa và chỉ lấy 500.000 đồng.

Ngày 14/01/2024 ông Cao Minh T1 (Chồng bà T) đã làm đơn trình báo gửi Công an xã T.

Ngày 14/01/2024, Công an xã T, huyện C mời H về làm việc và bàn giao H cho cơ quan Cảnh sát điều tra.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra bị cáo H đã khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.

Tại Kết luận định giá số 14/KL-HĐĐGTS ngày 21/01/2024 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự xác định các tài sản bị chiếm đoạt bao gồm xe gắn máy Yamaha Sirius, 02 Laptop, 02 điện thoại, 01 dây chuyền vàng, 04 ví tiền trị giá 42.491.600 đồng.

Tại Kết luận định giá số 78/KL-HĐĐGTS ngày 11/06/2024 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự định giá 01 balo không rõ nhãn hiệu màu xanh đen trị giá 100.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 181/CT-VKS.CC ngày 27/06/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử Nguyễn Tấn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tấn H thừa nhận việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo theo Cáo trạng số: 181/CT-VKS.CC ngày 27/06/2024 nêu trên là đúng với hành vi của bị cáo gây ra, không oan sai gì cho bị cáo và tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Tấn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuy nhiên khi lượng hình phạt cho bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết sau:

Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu (01 lần bị xử lý hành chính).

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đề nghị tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn H từ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng đến 03 (Ba) năm tù.

- Về trách nhiệm dân sự:

Bà Nguyễn Thị T và ông Cao Minh T1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 60.000.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường số tiền nêu trên và đề nghị khấu trừ số tiền 7.500.000 đồng mà Cơ quan Cảnh sát điều tra đang thu giữ của bị cáo, bị cáo sẽ bồi thường tiếp cho bà T và ông T1 số tiền 52.500.000 đồng nên ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo về việc bị cáo khấu trừ số tiền 7.500.000 đồng và buộc bị cáo H tiếp tục bồi thường số tiền 52.500.000 đồng cho bà T và ông T1.

- Về vật chứng:

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tiền Ngân hàng N1 7.500.000 đồng mà Cơ quan Cảnh sát điều tra đang thu giữ của bị cáo, giao cho bà T và ông T1 để khấu trừ số tiền mà bị cáo H bồi thường cho bà T và ông T1.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A04s, IMEI: 350246953875015 & 353931243875019 được gắn vào số thuê bao 0961111471.

Bị cáo Nguyễn Tấn H không tham gia tranh luận.

Bị cáo H nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin được mức án nhẹ để sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tấn H đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Cụ thể ngày 13/01/2024, tại căn nhà số D đường T, ấp T, xã T, huyện C Nguyễn Tấn H có hành vi lén lút trộm cắp 01 cái laptop hiệu Dell, 01 cái laptop hiệu HP, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro màu trắng, 03 cái bóp da (bóp thứ nhất có khoảng 8.000.000 đồng, bóp thứ 2 có khoảng 3.200.000 đồng, bóp thứ 3 chỉ có giấy tờ tùy thân), 01 sợi dây chuyền vàng, 01 cái điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A13 màu đen, 01 cái ba lô, 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius màu đen, biển số 59T2-648.1 và 2.500.000 đồng đựng trong bóp ở trong cốp chiếc xe máy hiệu Yamaha Sirius màu đen, biển số 59T2-648.1. Tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt là 56.291.600 đồng. Bằng những hành vi trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Tấn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, với phương thức lợi dụng sơ hở của người quản lý, đã chiếm đạt tài sản, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng đến đời sống và sinh hoạt tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức rõ việc bị cáo chiếm đoạt tài sản của người khác là sai trái, phạm pháp nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên đi đến hành động phạm tội chỉ vì cần tiền tiêu sài nhằm thoả mãn động cơ tư lợi riêng của cá nhân bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo, cần cách ly bị cáo một thời gian để bị cáo có thời gian cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên cần xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng là phù hợp.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ:

Nhân thân: Năm 2018, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi ra Quyết định áp dung biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng theo Quyết định số 07/QĐ-TA ngày 15/01/2018, chấp hành tại Cơ sở cai nghiện ma túy P1. Ngày 16/07/2019 bị cáo chấp hành xong.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Bà Nguyễn Thị T và ông Cao Minh T1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 60.000.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường số tiền nêu trên và đề nghị khấu trừ số tiền 7.500.000 đồng mà Cơ quan Cảnh sát điều tra đang thu giữ của bị cáo, bị cáo sẽ tiếp tục bồi thường cho bà T và ông T1 số tiền 52.500.000 đồng, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo về việc bị cáo khấu trừ số tiền 7.500.000 đồng và buộc bị cáo H tiếp tục bồi thường số tiền 52.500.000 đồng cho bà T và ông T1 là phù hợp.

[6] Về vật chứng:

Tiền Ngân hàng N1 7.500.000 đồng, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra đang thu giữ của bị cáo H, giao cho bà T và ông T1 để khấu trừ số tiền mà bị cáo H bồi thường cho bà T và ông T1, do đó bà T và ông T1 được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để nhận số tiền nêu trên.

01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A04s, IMEI: 350246953875015 & 353931243875019 được gắn vào số thuê bao 0961111471 là của bị cáo H dùng vào việc phạm tội, do đó tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước là phù hợp.

Đối với bà Nguyễn Kim X, là chủ tiệm V do không biết được nguồn gốc số vàng H bán là do trộm cắp mà có, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự đối với bà X, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi thống nhất, Hội đồng xét xử xét thấy xử lý trên là phù hợp nên không xét.

Đối với Trịnh Thanh N, Lê Trường G, Trần Võ Quốc K (Chủ tài khoản chuyển tiền mua xe gắn máy của H), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định truy tìm để làm rõ hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Ngày 06/06/2024 đã ra Quyết định tách hành vi của các đối tượng để điều tra, xác minh xử lý sau. Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi thống nhất, Hội đồng xét xử kiến nghị tiếp tục xác minh, truy tìm, làm rõ đối với Trịnh Thanh N, Lê Trường G và Trần Võ Quốc K để xử lý theo quy định của pháp luật.

[7] Về nghĩa vụ chịu án phí:

Căn cứ vào Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Bị cáo Nguyễn Tấn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/01/2024.

Căn cứ Điều 585; 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Tấn H bồi thường cho bà Nguyễn Thị T và ông Cao Minh T1 số tiền 60.000.000 (Sáu mươi triệu) đồng, khấu trừ số tiền 7.500.000 (Bảy triệu năm trăm nghìn) đồng mà Cơ quan Cảnh sát điều tra đang thu giữ tại tài khoản số 3949.0906.1710.00000 tại Kho bạc Nhà nước huyện C, bị cáo sẽ tiếp tục bồi thường cho bà T và ông T1 số tiền 52.500.000 (Năm mươi hai triệu năm trăm nghìn) đồng, thi hành 01 lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu bị cáo H không thực hiện hoặc chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán nêu trên thì bị cáo còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả được thực hiện theo quy định tại các Điều 357 và 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Bà T và ông T1 được quyền liên hệ Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền để nhận số tiền 7.500.000 (Bảy triệu năm trăm nghìn) đồng Cơ quan Cảnh sát điều tra đang thu giữ tại tài khoản số 3949.0906.1710.00000 tại Kho bạc Nhà nước huyện C.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A04s, IMEI: 350246953875015 & 353931243875019 được gắn vào số thuê bao 0961111471.

Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Buộc bị cáo Nguyễn Tấn H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 2.625.000 (Hai triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo và bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 và 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Công an huyện C;
  • - Chi cục THADS huyện C;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quang Định

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 189/2024/HSST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 189/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tấn H phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger