|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 189/2024/HNGĐ-ST Ngày 25-7-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Hà
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Đỗ Trọng Tuấn
Ông Nguyễn Thanh Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 175/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 177/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lương Ngọc T; nơi ĐKHKTT: Số nhà A, tổ dân phố Đ, thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: 518-0838, M keniga shi ueno kayamachi, 2709-1 ebisu, manson 1323, Nhật Bản; vắng mặt nhưng có đề nghị xét xử vắng mặt;
- Bị đơn: Chị Vũ Thị H; nơi cư trú: Số nhà A, tổ dân phố Đ, thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt nhưng có đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các bản tự khai (đã được hợp pháp hóa lãnh sự), nguyên đơn là anh Lương Ngọc T trình bày:
Anh Lương Ngọc T và chị Vũ Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 02/3/2018. Vì để phát triển kinh tế gia đình nên anh đã xuất cảnh sang Nhật Bản để làm việc. Tuy nhiên, sau khi xuất cảnh sang Nhật Bản thì anh T và chị Vũ Thị H thường xuyên mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không thể hòa hợp, không có tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng không còn. Anh chị cũng đã rất nhiều lần cho nhau cơ hội, cố gắng để vợ chồng hàn gắn mâu thuẫn, cũng nghĩ vì con chung mà cố gắng hàn gắn mối quan hệ nhưng anh chị vẫn không thể hoà hợp dù cho được hai bên gia đình động viên, khuyên bảo. Nay nhận thấy hôn nhân đã rơi vào tình trạng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích của hôn nhân trên thực tế không đạt được, nên anh T đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho anh T được ly hôn với chị Vũ Thị H.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, anh và chị Vũ Thị H có 02 con chung là: Lương Vũ An N, sinh ngày 18/9/2019 và Lương Vũ An N1, sinh ngày 10/09/2021. Nay ly hôn, anh T đề nghị Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng giao cháu Lương Vũ An N và cháu Lương Vũ An N1 cho anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi cháu trưởng thành. Do hiện tại anh T đang ở Nhật Bản nên anh ủy quyền cho mẹ đẻ là bà Phùng Thị Thúy t anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu N và cháu N1 trong thời gian làm việc tại nước ngoài cho đến khi anh T quay trở lại nước thì bà Phùng Thị T1 sẽ giao cháu N và cháu N1 cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con, anh T không yêu cầu chị Vũ Thị H cấp dưỡng cho cháu Lương Vũ An N và cháu Lương Vũ An N1.
Về tài sản chung: Anh Lương Ngọc T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại các bản tự khai, chị Vũ Thị H trình bày như sau:
Chị Vũ Thị H thống nhất với lời trình bày của anh Lương Ngọc T về việc kết hôn, quá trình chung sống và mâu thuẫn vợ chồng. Nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, đã ly thân một thời gian dài nên chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn.
Về con chung: Chị Vũ Thị H và anh Lương Ngọc T có 02 con chung là cháu Lương Vũ An N, sinh ngày 18/9/2019 và cháu Lương Vũ An N1, sinh ngày 10/9/2021. Ly hôn, chị H yêu cầu Tòa án giao 02 con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Vũ Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Anh Lương Ngọc T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về việc ly hôn và con chung với chị Vũ Thị H. Anh T hiện đang sinh sống tại Nhật Bản, chị H có nơi cư trú trú tại thành phố Hải Phòng. Quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
[2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn là anh Lương Ngọc T, bị đơn là chị Vũ Thị H vắng mặt, có quan điểm đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Anh Lương Ngọc T và chị Vũ Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 02/3/2018. Theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, năm 2022, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, phong cách sống không phù hợp, không thống nhất trong việc làm ăn kinh tế. Nay, anh Lương Ngọc T yêu cầu xin ly hôn, chị H đồng ý. Xét thấy, mâu thuẫn giữa anh T và chị H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu của anh Lương Ngọc T về việc xin ly hôn với chị Vũ Thị H.
[4] Về con chung: Anh Lương Ngọc T và chị Vũ Thị H có 02 con chung là cháu Lương Vũ An N, sinh ngày 18/9/2019 và cháu Lương Vũ An N1, sinh ngày 10/09/2021. Anh chị cùng thống nhất khi ly hôn, đề nghị Tòa án giao con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, thỏa thuận về việc nuôi con chung của anh T, chị H là tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận: Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình: Giao 02 con chung là cháu Lương Vũ An N và cháu Lương Vũ An N1 cho anh Lương Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng. Hiện nay anh T đang ở Nhật Bản nên anh T đã ủy quyền cho mẹ đẻ anh T là bà Phùng Thị Thúy t anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu N và cháu N1 trong thời gian làm việc tại nước ngoài.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T và chị H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên cần ghi nhận sự tự nguyện của anh chị về việc tạm thời không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
[6] Về tài sản chung: Anh Lương Ngọc T và chị Vũ Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Lương Ngọc T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Anh Lương Ngọc T và chị Vũ Thị H được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lương Ngọc T.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Lương Ngọc T được ly hôn chị Vũ Thị H.
- Về con chung: Giao hai con chung là cháu Lương Vũ An N, sinh ngày 18/9/2019 và cháu Lương Vũ An N1, sinh ngày 10/09/2021 cho anh Lương Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Trong thời gian anh T ở nước ngoài, bà Phùng Thị T1 (mẹ đẻ anh T) là người thay anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lương Vũ An N, sinh ngày 18/9/2019 và cháu Lương Vũ An N1, sinh ngày 10/09/2021.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của anh Lương Ngọc T và chị Vũ Thị H về việc tạm thời không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Anh Lương Ngọc T và chị Vũ Thị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Lương Ngọc T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000452 ngày 18 tháng 6 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Anh Lương Ngọc T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Anh Lương Ngọc T (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Chị Vũ Thị H (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thúy Hà |
Bản án số 189/2024/HNGĐ-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 189/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
