Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:189/2024/DS – ST

Ngày: 24-9-2024

“V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Kim Sa Pha

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dư Văn Thanh

Ông Huỳnh Phước

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Cẩm Vân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thúy Trang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:275/2024/TLST- DS ngày 04 tháng 7 năm 2024; Về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:472/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 8 năm 2024; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng A. Địa chỉ: Số 130, đường P, phường A, Quận N, Thành Phố Hồ Chí Minh.

+ Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Việt T – Nhân viên kinh doanh, Ngân hàng A – Chi nhánh Sóc Trăng. Địa chỉ: Số 257, đường Q, phường x, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu L, sinh năm 1973. Địa chỉ: Số 594, đường X, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 05/6/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng A (Gọi tắt là Ngân hàng) ông Nguyễn Việt T trình bày:

Ngày 27/8/2019, ông Nguyễn Hữu L với Ngân hàng A, chi nhánh Sóc Trăng có thỏa thuận, ký kết Hợp đồng tín dụng số 00431179/0063925301T19147; Ngân hàng đã giải ngân cho ông L vay số tiền 70.000.000 đồng; Lãi suất là 7,5%/năm, lãi quá hạn là 11,25%/năm, mục đích vay tiêu dùng, hình thức trả góp hàng tháng, lãi tính theo dư nợ ban đầu và vay tín chấp, không có thế chấp tài sản.

Trong quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng nêu trên do ông Nguyễn Hữu L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán trả tiền vốn và lãi theo như thỏa thuận. Tính đến ngày 05/6/2024, ông L đã trả cho Ngân hàng số tiền vốn vay 52.395.000 đồng, còn nợ lại số tiền vốn vay là 17.605.000 đồng và tiền lãi quá hạn là 1.216.649 đồng, tính đến ngày xét xử sơ thẩm tiền lãi quá hạn là 1.691.844 đồng. Tổng cộng số tiền còn nợ là 19.296.844 đồng.

Vì vậy, Ngân hàng A khởi kiện bị đơn ông Nguyễn Hữu L yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết: Buộc bị đơn ông Nguyễn Hữu L trả số tiền vốn, lãi còn nợ nêu trên cho Ngân hàng và tiền lãi tiếp tục phát sinh cho đến khi thanh toán xong khoản nợ vay nêu trên.

* Bị đơn ông Nguyễn Hữu L được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do, cũng như không có văn bản trả lời ý kiến cho Tòa án biết về việc bị nguyên đơn Ngân hàng A khởi kiện yêu cầu thanh toán số tiền vốn, lãi vay còn nợ lại cho Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã thỏa thuận, ký kết nêu trên.

* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án; Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ, quyền và nghĩa vụ của mình, cũng như chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án; Còn bị đơn ông Nguyễn Hữu L đều vắng mặt, chưa chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án và cũng như thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của mình. Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng A, buộc bị đơn ông Nguyễn Hữu L có nghĩa vụ thanh toán số tiền vốn, lãi còn nợ lại nêu trên cho Ngân hàng, cũng như tiền lãi tiếp tục phát sinh cho đến khi ông Nguyễn Hữu L thanh toán xong khoản nợ vay cho Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã thỏa thuận, ký kết nêu trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Xét thấy, ông Nguyễn Hữu L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn ông Nguyễn Hữu L theo quy định.

[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn Ngân hàng A khởi kiện bị đơn ông Nguyễn Hữu L yêu cầu thanh toán số tiền vốn và tiền lãi vay theo Hợp đồng tín dụng hai bên đã ký. Do đó, quan hệ phát sinh tranh chấp được xác định là tranh chấp hợp đồng dân sự mà cụ thể là tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Theo nội dung thỏa thuận tại Khoản 17 của Hợp đồng tín dụng hai bên thỏa thuận, ký kết nêu trên khi có phát sinh tranh chấp nếu không thương lượng được thì Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết là Tòa án có địa chỉ chi nhánh của nguyên đơn Ngân hàng A, tức có nghĩa là Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về thời hiệu khởi kiện của vụ án: Do các đương sự không đặt ra yêu cầu xem xét về thời hiệu khởi kiện, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn ông Nguyễn Hữu L thanh toán tiền vốn, lãi vay của Hợp đồng tín dụng số 00431179/0063925301T19147 ngày 27/8/2019 giữa hai bên, thỏa thuận ký kết thì thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng A giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn ông Nguyễn Hữu L không có ý kiến phản đối gì đối với số tiền vốn, lãi quá hạn còn nợ lại tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm (ngày 24/9/2024) là 1.691.844 đồng. Trong đó, tiền nợ vốn vay là 17.605.000 đồng, tiền lãi trong hạn 00 đồng, tiền lãi quá hạn là 1.691.844 đồng. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đã nộp cho Tòa án và đã được Tòa án mở phiên họp công khai chứng cứ như: Giấy đề vay vốn, kiêm phương án sử dụng vốn ngày 20/8/2019; Hợp đồng tín dụng số 00431179/0063925301T19147 ngày 27/8/2019; Giấy chứng minh nhân dân của ông Nguyễn Hữu L; Sổ hộ khẩu của hộ ông Nguyễn Hữu L; Quyết định nâng lương thường xuyên của ông Nguyễn Hữu L công tác tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Sóc Trăng và các tài liệu chứng cứ khác (bút lục số 16 – 26) và Bảng tính lãi quá hạn của Khách hàng ông Nguyễn Hữu L. Các tài liệu, chứng cứ này đều thể hiện nội dung bị đơn ông Nguyễn Hữu L có vay số tiền 70.000.000 đồng của Ngân hàng A, chi nhánh Sóc Trăng, bị đơn ông Nguyễn Hữu L đều có ký tên, nhận nợ và có xác nhận của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sóc Trăng nơi ông L công tác. Đồng thời, phía nguyên đơn Ngân hàng cũng thừa nhận sau khi vay thì ông Nguyễn Hữu L đã thanh toán được tiền vốn vay là 52.395.000 đồng, chỉ còn nợ lại tiền vốn vay là 17.605.000 đồng và tiền lãi quá hạn là 1.691.844 đồng, tổng cộng là 19.296.844 đồng, nên đây là những tình tiết sự thật, không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định bị đơn ông Nguyễn Hữu L có vay và còn nợ lại Ngân hàng A, chi nhánh Sóc Trăng số tiền vốn vay, tiền lãi quá hạn, tổng cộng là 19.296.844 đồng

Do bên vay ông Nguyễn Hữu L đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền vốn, lãi định kỳ hàng tháng (vào ngày 27 hàng tháng)...theo nội dung thỏa thuận tại Khoản 9 của Hợp đồng tín dụng nêu trên giữa hai bên đã thỏa thuận, ký kết. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng A đối với ông Nguyễn Hữu L yêu cầu thanh toán tiền vốn, lãi vay quá hạn còn nợ lại tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm với tổng số tiền 19.296.844 đồng là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.

[6] Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Bị đơn ông Nguyễn Hữu L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận theo quy định số tiền là 964.842 đồng. Nguyên đơn Ngân hàng A không phải chịu án phí do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận, nên được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định.

[7] Ý kiến phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa về việc chấp hành pháp luật tố tụng của thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự, cũng như quan điểm về nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1, 3 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

- Căn cứ các Điều 100, 103 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng A đối với bị đơn ông Nguyễn Hữu L, về việc tranh chấp Hợp đồng tín dụng số 00431179/0063925301T19147 ngày 27/8/2019.

2. Buộc bị đơn ông Nguyễn Hữu L có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng A số tiền vốn vay, tiền lãi vay quá hạn, (tạm tính đến ngày 24/9/2024) tổng cộng là 19.296.844 đồng. Trong đó, tiền vốn vay là 17.605.000 đồng, tiền lãi quá hạn là 1.691.844 đồng.

Trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật, nguyên đơn Ngân hàng A có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Nguyễn Hữu L chậm thanh toán số tiền nợ nêu trên thì còn phải chịu thêm tiền lãi suất chậm trả theo Hợp đồng tín dụng số 00431179/0063925301T19147 ngày 27/8/2019 mà giữa hai bên đã thỏa thuận, ký kết tương ứng với thời gian chậm thi hành án, tính từ ngày 25/9/2024 cho đến khi hoàn tất thanh toán số tiền nêu trên.

3. Về án phí sơ thẩm:

3.1 Buộc bị đơn ông Nguyễn Hữu L có nghĩa vụ phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch số tiền 964.842 đồng.

3.2 Nguyên đơn Ngân hàng A được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 471.000 đồng theo biên lai thu số 0001847 ngày 18/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

4. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn ông Nguyễn Hữu L thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai hợp lệ theo quy định, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Sóc Trăng;

- VKSND TP. Sóc Trăng;

- Chi cục THADS TP. Sóc Trăng;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa

Kim Sa Pha

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 189/2024/DS – ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 189/2024/DS – ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng A - ông L (Vay trừ lương hàng tháng)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger