|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 189/2024/KDTM-PT
Ngày: 24/7/2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Thúy Hạnh
Các thẩm phán:Bà Lê Thúy Linh
Bà Phạm Thị Mai
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hồng Hòa - Thư ký Toà án
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội: Bà Đinh Thị Tuyết Mai - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 03 + 24/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 110/2024/KDTM - PT ngày 10/4/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và tuyên bố hợp đồng công chứng vô hiệu”. Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 145/2023/KDTM-ST ngày 05 tháng 12 năm 2023 của Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 293/2024/QĐXXPT-KDTM ngày 15/5/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 370/2024/QĐPT-KDTM ngày 04/6/2024, giữa:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ.
Trụ sở: Số A, phố T, quận H, thành phố Hà Nội
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc L - Tổng giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lưu Văn H - Cán bộ Xử lý nợ Trung tâm xử lý nợ Ngân hàng B; Ông Vũ Chí M - Trưởng phòng Quản lý khách hàng doanh nghiệp 1 - Chi nhánh B; Bà Lê Thị T - Cán bộ phòng Quản lý khách hàng doanh nghiệp1- Chi nhánh T6
Bị đơn: Công ty TNHH I.
Địa chỉ đăng ký kinh doanh: Số 103 ngõ 27A đường Khuất Duy Tiến, phường Thanh Xuân Bắc, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội
Địa chỉ văn phòng đại diện: Số D ngách A N, phường N, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Minh T1 - chức vụ: Giám Đốc.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Phú D, sinh 1960; Bà Tạ Thị Ngọc T2, sinh 1973.
Địa chỉ: A (số A N), phường T, quận H, thành phố Hà Nội
Ông Vũ Đức T3, sinh 1970.
Địa chỉ cư trú: Căn hộ B park A T, phường M, quận H, thành phố Hà Nội
Văn phòng Công chứng Vũ Tiến T4.
Địa chỉ: Tổ A khu X, thị trấn X, huyện C, thành phố Hà Nội.
Anh Lương Đức T5, sinh 1996.
Địa chỉ: Số F ngõ Đ + 284 ngõ V, phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội.
(Nguyên đơn, ông T3 có mặt;Bị đơn và những người liên quan khác vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Ngân hàng TMCP Đ trình bày:
Ngày 19/11/2019, Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh T6 (Gọi tắt là Ngân hàng) đã ký Hợp đồng tín dụng số 02/11247795/2019/HĐTD với Công ty TNHH I (Gọi tắt là Công ty I). Nội dung hợp đồng thể hiện việc Ngân hàng cấp cho Công ty I hạn mức tín dụng, số tiền tối đa là: 70.000.000.000 đồng bao gồm cả Việt Nam đồng và ngoại tệ quy đổi. Trong đó đã bao gồm toàn bộ dư nợ vay ngắn hạn cụ thể, Hợp đồng cấp bảo lãnh cụ thể theo Hợp đồng tín dụng Hạn mức số 01/11247795/2019/HĐTD ngày 18/01/2019 chuyển sang.Thời hạn cấp hạn mức: Đến hết ngày 31/8/2020. Mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động, bảo lãnh thanh toán, mở L1 (trừ phần ký quỹ). Thời hạn cho vay tối đa 05 tháng/khoản rút vốn vay.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay của hợp đồng nêu trên:
- Tài sản 1: Quyền sử dụng 39.5 m² đất và tài sản gắn liền với đất tại Số B Ngõ V, phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội đứng tên quyền sử dụng, sở hữu Công ty TNHH I.
- Tài sản 2: Quyền sử dụng 501 m2 đất và tài sản gắn liền với đất tại số F ngõ Đ và số B ngõ V, phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp mang tên Công ty TNHH I.
- Tài sản 3: Quyền sở hữu căn hộ chung cư theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên người sở hữ ông Nguyễn Phú D và và Bà Tạ Thị Ngọc T2.
Thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty I số tiền 57.760.000.000 đồng.
Dư nợ của Công ty I bắt đầu bị chuyển nợ quá hạn từ ngày 02/6/2021. Tính đến ngày 05/12/2023 dư nợ của Công ty I tại Ngân hàng là 60.100.335.561 đồng, trong đó: Nợ gốc: 41.360.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 5.431.625.753 đồng; nợ lãi quá hạn: 13.308.709.808 đồng.
Từ thời điểm Công ty I phát sinh nợ quá hạn, Ngân hàng đã nhiều lần liên hệ, làm việc với giám đốc Công ty I, yêu cầu Công ty trả nợ trả nợ và yêu cầu các bên có nghĩa vụ liên quan tự nguyện bàn giao tài sản để xử lý thu hồi nợ nhưng Công ty I và các bên liên quan không đưa ra được phương án trả nợ cụ thể cho Ngân hàng.
Tháng 12 năm 2021, Ngân hàng có nhận được thông báo và 02 Hợp đồng ủy quyền số công chứng 13468 và 13469 do Văn phòng C phát hành liên quan đến các tài sản hiện đang thế chấp tại Ngân hàng. Các hợp đồng ủy quyền không đúng quy định của pháp luật bởi:
- Các hợp đồng ủy quyền ban hành khi các tài sản của Công ty I vẫn đang thế chấp tài sản tại Ngân hàng, Công ty I không xuất trình được bản gốc các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật công chứng theo khoản 8, Điều 40 Luật công chứng.
- Các hợp đồng ủy quyền do Văn phòng C phát hành quy định việc Công ty I ủy quyền cho ông Vũ Đức T3 được thay mặt Công ty I toàn quyền định đoạt, lập và ký kết các hợp đồng chuyển nhượng, góp vốn, tặng cho, cho thuê, cho mượn..." khoản 6 Điều 2 mà không được sự đồng ý của Ngân hàng bằng văn bản, vi phạm công văn số 1829/STP-BTTP "v/v tuân thủ quy định trong Công chứng hợp đồng, giao dịch có liên quan đến tài sản đang thế chấp tại các tổ chức tín dụng", do Sở tư pháp- UBND thành phố đã ban hành ngày 09/07/2020.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Ngân hàng không yêu cầu giải quyết hậu quả của việc tuyên hủy các hợp đồng ủy quyền nêu trên của Văn phòng C.
Ngân hàng yêu cầu Công ty I thanh toán toàn bộ số nợ 60.100.335.561 đồng, bao gồm 41.360.000.000₫ (Gốc) và 5.431.625.753đ (Lãi trong hạn) cùng 13.308.709.808đ (lãi quá hạn).
Trường hợp,Công ty I không thanh toán nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
Ngoài ra, Ngân hàng cũng yêu cầu hủy Hợp đồng ủy quyền số 13468 và Hợp đồng ủy quyền số 13469 lập ngày 09/7/2021 tại Văn phòng C.
Bị đơn Công ty TNHH I trình bày:
Công ty xác nhận việc đã ký kết Hợp đồng tín dụng và các hợp đồng thế chấp tài sản của Công ty I với Ngân hàng đúng như Ngân hàng đã trình bày.
Công ty đã được Ngân hàng giải ngân cho vay 57.760.000.000đ.Công ty I bắt đầu bị chuyển nợ quá hạn từ ngày 7/2/2020. Tính đến hết ngày 16/07/2023, Công ty TNHH I còn nợ B tổng số tiền là 58.593.019.178 đồng, trong đó: Nợ gốc: 41.360.000.000 đồng; Nợ lãi, phí quá hạn: 18.357.994.521.
Công ty xác định Công ty TNHH I sẽ có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng nhưng hiện nay Công ty không còn khả năng trả nợ nên đồng ý để Ngân hàng xử lý tài sản bảo đảm để thanh toán khoản nợ của Công ty theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 02/11247795/2019/HĐTD ngày 19/11/2019 bao gồm toàn bộ dư nợ vay ngắn hạn cụ thể, Hợp đồng cấp bảo lãnh cụ thể theo Hợp đồng tín dụng Hạn mức số 01/11247795/2019/HĐTD ngày 18/01/2019 chuyển sang.
Đối với yêu cầu hủy Hợp đồng ủy quyền tại Văn phòng C do Ngân hàng yêu cầu, ông T1 (Giám đốc Công ty I) đã nhiều lần liên hệ với ông Vũ Đức T3 để đến gặp Ngân hàng thực hiện nội dung ủy quyền là ông T3 thay ông hoàn thành việc thanh toán nghĩa vụ phát sinh liên quan đến hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, khế ước nhận nợ mà công ty đã ký với B nhưng ông T3 có đến làm việc với Ngân hàng hay không, ông không nắm được. Công ty Đ1 và đề nghị Tòa án tuyên hai hợp đồng ủy quyền nêu trên vô hiệu.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Phú D và bà Tạ Thị Ngọc T2 trình bày:
Ông D và bà T2 có ký hợp đồng thế chấp nhà chung cư của ông bà với Ngân hàng để đảm bảo cho khoản vay 1.000.000.000 đồng của Công ty I tại Ngân hàng.Trước yêu cầu xử lý tài sản của Ngân hàng, ông bà cho rằng đây là khoản nợ của Công ty I nên Công ty phải trả nợ và trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông bà.
Các đương sự gồm: Ông Vũ Đức T3, Văn phòng C1 và anh Lương Đức T5 mặc dù đã được Tòa án cấp sơ thẩm triệu tập tham gia tố tụng và tống đạt các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến phản hồi, vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc và phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án.
Bản án kinh doanh sơ thẩm số 145/2023/KDTM-ST ngày 05 tháng 12 năm 2023 của Toà án nhân dân quận Ba Đình xét xử đã quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ.
- Xác nhận Công ty TNHH I còn nợ Ngân hàng TMCP Đ tổng số tiền theo Hợp đồng tín dụng số 02/11247795/2019/HĐTD ngày 19/11/2019 và các Giấy nhận nợ kèm theo. Trong đó đã bao gồm toàn bộ dư nợ vay ngắn hạn cụ thể, Hợp đồng cấp bảo lãnh cụ thể theo Hợp đồng tín dụng Hạn mức số 01/11247795/2019/HĐTD ngày 18/01/2019 chuyển sang, tạm tính đến ngày 05/12/2023 là: Nợ gốc: 41.360.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 5.431.625.753 đồng; nợ lãi quá hạn: 13.308.709.808 đồng. Tổng cộng: 60.100.335.561 đồng.
- Buộc Công ty TNHH I phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ tổng số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số 02/11247795/2019/HĐTD ngày 19/11/2019 và các Giấy nhận nợ kèm theo, trong đó đã bao gồm toàn bộ dư nợ vay ngắn hạn cụ thể, Hợp đồng cấp bảo lãnh cụ thể theo Hợp đồng tín dụng Hạn mức số 01/11247795/2019/HĐTD ngày 18/01/2019 chuyển sang tạm tính đến ngày 05/12/2023 là Nợ gốc: 41.360.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 5.431.625.753 đồng; nợ lãi quá hạn: 13.308.709.808 đồng. Tổng cộng: 60.100.335.561 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm, Công ty TNHH I còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với khoản tiền nợ gốc chậm trả, khoản tiền lãi đối với khoản tiền lãi chậm trả cho đến ngày thực tế thanh toán hết nợ cho Ngân hàng TMCP Đ theo mức lãi suất mà hai bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng Hạn mức số 01/11247795/2019/HĐTD ngày 18/01/2019; Hợp đồng tín dụng Hạn mức số 02/11247795/2019/HĐTD ngày 19/11/2019 và các Giấy nhận nợ kèm theo hai bên đã ký.
Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của nguyên đơn cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho nguyên đơn cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của nguyên đơn cho vay.
2. Trường hợp, khi bản án có hiệu lực pháp luật mà Công ty TNHH I không trả được nợ, Ngân hàng TMCP Đ có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ, gồm:
- Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại số B Ngõ V, phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 951936, số vào sổ cấp GCN: CT-DA00883, do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 29/8/2019 cho Công ty TNHH I theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số công chứng 2459.2019/HĐTC, quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04/9/2019 được ký tại Văn phòng C2, thành phố Hà Nội
- Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại số F ngõ Đ và số B ngõ V, phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác găn liên với đất số CS951939, sô vào sô câp GCN: CT-DA00884, do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H câp ngày 29/8/2019 cho Công ty TNHH I theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số công chứng 2460.2019/HĐTC, quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04/9/2019 được ký tại Văn phòng C2, thành phố Hà Nội.
- Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại Phòng 09 loại B CT1 tầng 10 khu đô thị D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh theo Giấy chứngnhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 729137, số vào sổ cấp GCN: CH 04960, do UBND thành phố H cấp ngày 02/11/2015 mang tên ông Nguyễn Phú D và bà Tạ Thị Ngọc T2 theo Hợp đồng thế chấp nhà chung cư số công chứng 204, quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 14/01/2020 được ký tại Văn phòng C3.
Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp nêu trên sẽ được thanh toán toàn bộ nợ trong các hợp đồng tín dụng nêu trên, nếu có dư Ngân hàng TMCP Đ phải trả lại cho bên thế chấp, nếu thiếu thì bên vay tiên tiêp tục phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền còn thiếu.
3. Tuyên Hợp đồng ủy quyền số 13468, quyển số 03/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/7/2021 tại Văn phòng C; Hợp đồng ủy quyền số 13469, quyển số 03/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/7/2021 tại Văn phòng C vô hiệu.
4. Do bị đơn không đưa ra yêu cầu phản tố; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đưa ra yêu cầu độc lập nên Tòa án không xem xét. Dành quyền khởi kiện bằng một vụ án khác trong trường hợp các đương sự có yêu cầu theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm ông Vũ Đức T3 có đơn kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về các khoản nợ gốc, lãi là vi phạm nguyên tắc "chỉ xử lý một lần đối với mỗi hành vi không trả nợ đúng hạn". Ngân hàng đã có văn bản chuấp thuận cho Công ty I được ủy quyền cho bên thứ ba thay thế thực hiện nghĩa vụ đảm bảo của mình đối với các nghĩa vụ phát sinh của Công ty tại Ngân hàng nên giữa Công ty và ông T3 đã ký 02 hợp đồng ủy quyền ngày 09/7/2021, lập vi bằng ngày 08/7/2021 đính kèm Văn bản thỏa thuận số 0807.2021/VBTT ngày 08/7/2021. Ông T3 chưa có ý kiến trong quá trình xét xử về nghĩa vụ trả nợ. Bản án sơ thẩm không phân định nghĩa vụ của từng tài sản. Chưa có sự đồng ý hoặc có ý kiến đối với tài sản là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại số B ngõ V và số F ngõ Đ, số B ngõ V.
- Bản án sơ thẩm tuyên hủy 02 hợp đồng ủy quyền số 1368, số 1369 ngày 09/7/2021 tại Văn phòng C là không đúng quy định pháp luật, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của ông T3. Các hợp đồng ủy quyền được ký trên cơ sở thông báo bằng công văn số 23/CV-TĐO ngày 24/6/2021 của Ngân hàng B - Chi nhánh T6 về việc chấp thuận cho các bên ủy quyền để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm.
- Tòa án cấp sơ thẩm không định giá các tài sản đã và đang xây dựng trên đất để phân tách nghĩa vụ, quyền lợi làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông T3.
- Tòa án cấp sơ thẩm không triệu tập đầy đủ, lấy lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Ông Vũ Đức T3 giữ yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm và đề xuất hướng giải quyết vụ án có nội dung chính: Tại phiên tòa HĐXX đã thực hiện đúng quy định và yêu cầu chung của phiên tòa phúc thẩm: Thành phần HĐXX phúc thẩm, phạm vi xét xử phúc thẩm đúng quy định tại Điều 64 và Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự. Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 51 BLTTDS. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Các đương sự đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Tại phiên tòa, các đương sự đã được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các diều 70,71,72, 73 và 74 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung kháng cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T3 không xuất trình được tài liệu chứng minh việc B đồng ý cho ông cải tạo, xây dựng, phát triển công trình trên diện tích đất đã thế chấp. Hợp đồng ủy quyền giữa Công ty I và ông T3 không hợp pháp. Không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T3. Đề xuất: Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của ông Vũ Đức T3 (Ông T3) nộp trong thời hạn luật định, người kháng cáo đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên kháng cáo là hợp lệ, được chấp nhận.
Xét về nội dung kháng cáo:
Về tố tụng: Qua kiểm tra các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện quá trình giải quyết, Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng như Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về việc triệu tập lấy lời khai và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải của đương sự; Quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ; Quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa cho các đương sự trong vụ án. Việc tống đạt các văn bản tố tụng này cho các đương sự đã được Tòa án cấp sơ thẩm tống đạt hợp lệ. Theo quy định tại khoản 2 Điều 24, khoản 5 Điều 70 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì đương sự có quyền giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án kể từ khi Tòa án thụ lý để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Tuy nhiên người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông T3, Văn phòng C, anh Lương Đức T5 không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không xuất trình tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và không có yêu cầu độc lập mặc dù Tòa án đã yêu cầu đương sự xuất trình các tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án để xem xét, giải quyết, xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 và khoản 2 Điều 227, Bộ luật Tố tụng dân sự là đúng quy định.
Về nội dung:
Hợp đồng tín dụng hạn mức số 02/11247795/2019/HĐTD ngày 19/11/2019 (bút lục 204) giữa Ngân hàng và Công ty I được ký kết tự nguyện, đúng thẩm quyền, đã bảo đảm điều kiện về chủ thể. Nội dung hợp đồng không trái với quy định của pháp luật nên hợp đồng có hiệu lực thi hành.
Theo Hợp đồng số 02, Ngân hàng cấp cho Công ty hạn mức tín dụng thường xuyên với số tiền tối đa là 70.000.000.000đồng trong đó bao gồm toàn bộ dư nợ của Công ty tại Ngân hàng được chuyển tiếp từ các Hợp đồng tín dụng ngắn hạn cụ thể, Hợp đồng cấp bảo lãnh cụ thể theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2019/11247795/2019/HĐTD ngày 18/01/2019. Như vậy, nghĩa vụ trả nợ của Công ty I cho Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2019/11247795/2019/HĐ TD ngày 18/01/2019 đã được các bên thống nhất chuyển tiếp sang Hợp đồng tín dụng hạn mức số 02/11247795/2019/HĐTD ngày 19/11/2019.
Đối với Hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2019/11247795/2019/HĐTD ngày 18/01/2019, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty I vay theo 03 hợp đồng tín dụng cụ thể và các đề xuất giải ngân (bút lục 60-72). Cụ thể:
- Ngày 06/9/2019 giải ngân số tiền 30.0000.000.000đồng
- Ngày 10/9/2019 giải ngân số tiền 5.000.000.000đồng
- Ngày 13/9/2019 giải ngân số tiền 4.000.000.000đồng
Đối với Hợp đồng tín dụng hạn mức số 02/11247795/2019/HĐTD ngày 19/11/2019, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty I vay theo 04 hợp đồng tín dụng cụ thể và các đề xuất giải ngân (bút lục 125-140). Cụ thể:
- Ngày 22/11/2019 giải ngân số tiền 6.850.000.000đồng
- Ngày 22/11/2019 giải ngân số tiền 6.750.000.000đồng
- Ngày 31/12/2019 giải ngân số tiền 3.900.000.000đồng
- Ngày 17/01/2020 giải ngân số tiền 1.260.000.000đồng
Tổng số tiền Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty I là 57.760.000.000đồng. Công ty I đã trả được 16.400.000.000đồng nợ gốc.
Đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc theo các hợp đồng tín dụng hạn mức, hợp đồng tín dụng cụ thể và các đề xuất giải ngân, Công ty I không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ gốc cho Ngân hàng. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Công ty I thanh toán nợ gốc 57.760.000.000đồng - 16.400.000.000đồng = 41.360.000.000đồng là có căn cứ.
Về yêu cầu thanh toán tiền lãi:
Kèm theo hợp đồng tín dụng hạn mức là điều khoản và điều kiện cấp tín dụng (bút lục 201). Điều 5 của điều khoản và điều kiện cấp tín dụng đã quy định "Lãi suất được xác định trong từng hợp đồng tín dụng cụ thể theo chế độ lãi suất của ngân hàng trong từng thời kỳ".
Đối chiếu bảng kê tính lãi do Ngân hàng xuất trình (bút lục 674) thì ngân hàng đang áp dụng mức lãi suất cố định 8,5%/năm kể từ khi giải ngân theo các hợp đồng tín dụng cụ thể và các đề xuất giải ngân.
Tuy nhiên đối chiếu với phần xét duyệt của ngân hàng đối với khoản vay được giải ngân ngày 22/11/2019 (bút lục 122, 137) thì mức lãi suất vay trong hạn là 8%/năm.
Tại các phần xét duyệt của Ngân hàng đối với khoản vay đều quy định "Lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn (lãi suất vay đã được điều chỉnh nếu có)". Tuy nhiên mức lãi suất quá hạn ngân hàng đang áp dụng đối với khoản vay của Công ty I là cố định kể từ thời điểm quá hạn. Tại cấp sơ thẩm, Ngân hàng chưa cung cấp cho Tòa án các quyết định điều chỉnh lãi suất theo từng thời kỳ kể từ khi giải ngân cho Công ty I vay nên chưa có căn cứ chứng minh mức lãi suất quá hạn cố định Ngân hàng đang tính theo bảng tính lãi là phù hợp với thỏa thuận của các bên. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thâm, Ngân hàng đã xuất trình các quyết định điều chỉnh lãi suất, qua đối chiếu bảng kê tính lãi thì Ngân hàng đã thực hiện việc điều chỉnh và tính lãi đúng với thỏa thuận của các bên trong hợp đồng, chính bị đơn cũng xác nhận số nợ lãi đúng như Ngân hàng đã tính nên yêu cầu thanh toán tiền lãi của Ngân hàng được chấp nhận.
Ông T3 không phải người vay tiền, không bị Ngân hàng khởi kiện đòi thanh toán nợ trong trường hợp Công ty I không trả được nợ nhưng lại có yêu cầu kháng cáo và cho rằng việc chấp nhận yêu cầu trả nợ gốc, lãi của Tòa án cấp sơ thẩm là vi phạm nguyên tắc "chỉ xử lý một lần đối với mỗi hành vi không trả nợ đúng hạn". Nguyên tắc này được hiểu trong một khoảng thời gian bên vay vi phạm nghĩa vụ (thanh toán lãi trong hạn, lãi quá hạn) thì chỉ được tính một loại lãi tương ứng với thời gian vi phạm, không được tính thêm loại lãi nào khác trùng với thời gian đã áp dụng. Trong các hợp đồng tín dụng cụ thể đều quy định thời gian thanh toán lãi định kỳ và thời hạn thanh toán nợ gốc. Do đó trong trường hợp Công ty I không thực hiện đúng thời hạn thanh toán theo như cam kết thì phải chịu các khoản lãi trong hạn, lãi quá hạn tương ứng với thời gian vi phạm, chậm thực hiện nghĩa vụ.
Về yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của Ngân hàng:
Tại mục 3 Hợp đồng tín dụng hạn mức số 02/11247795/2019/HĐTD ngày 19/11/2019 quy định biện pháp bảo đảm gồm:
"1. Hợp đồng thế chấp bất động sản số công chứng 0250.2019/HDTC ngày 28/1/19 được ký giữa Bên thế chấp là Bà Nguyễn Thị Thu H1 cùng chồng là ông Nguyễn Văn H2, bên được bảo lãnh Công ty TNHH I và Bên nhận thế chấp Ngân hàng TMCP Đ- Chi nhánh T6.
2. Hợp đồng thế chấp bất động sản số công chứng 2460.2019/HĐTC ngày, 04/09/2019 được ký giữa Bên thế chấp là Công ty TNHH I và Bên nhận thế chấp Ngân hàng TMCP Đ2 và P triên Việt Nam- Chi nhánh T6.
3. Hợp đồng thế chấp bất động sản số công chứng 2459.2019/HĐTC ngày 04/09/2019 được ký giữa Bên thê châp là Công ty TNHH I và Bên nhận thế chấp Ngân hàng TMCP Đ3- Chi nhánh T6.
và (2) các Hợp đồng bảo đảm khác được giao kết cùng ngày và sau ngày ký Hợp đồng tín dụng này giữa Khách hàng và/hoặc bên thứ ba (gọi chung là Bên bảo đảm) với Ngân hàng để) đảm cho các nghĩa vụ của Khách hàng tại Ngân hàng".
Như vậy ngoài các tài sản bảo đảm được quy định cụ thể trong hợp đồng tín dụng hạn mức thì các tài sản bảo đảm khác được ký cùng ngày và sau ngày ký hợp đồng tín dụng hạn mức giữa bên bảo đảm với ngân hàng đều được xác định là bảo đảm cho nghĩa vụ của Công ty I tại ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 02/11247795/2019/HĐTD ngày 19/11/2019.
Các tài sản bảo đảm cho khoản vay của Công ty I gồm:
- Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại số B Ngõ V, phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội.
- Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại số F ngõ Đ và số B ngõ V, phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội.
- Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại Phòng 09 loại B CT1 tầng 10 khu đô thị D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng.
Các hợp đồng thế chấp được ký kết tự nguyện, chủ thể tham gia ký kết có đủ năng lực hành vi dân sự, tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của người thế chấp. Hợp đồng thế chấp được lập thành văn bản và chứng thực đúng quy định. Nội dung hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật. Tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm nên Hợp đồng có hiệu lực thi hành.
Ông Vũ Đức T3 kháng cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã không xem xét đến các tài sản, công trình đã và đang xây dựng tại số F ngõ Đ + 284 ngõ V do ông xây dựng. Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 12/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình (bút lục 652) thể hiện tài sản trên đất có một số công trình đang trong quá trình xây dựng. Xét thấy: Ngân hàng nhận thế chấp tài sản tại số F ngõ Đ + 284 ngõ V, phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội trên cơ sở GCNQSDĐ số CS 951939 (bút lục 45) đứng tên Công ty I. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Biên bản định giá tài sản thế chấp của ngân hàng ngày 04/9/2019, Đơn yêu cầu đăng ký thế chấp đều thể hiện tài sản gắn liền với đất là nhà ở riêng lẻ có diện tích xây dựng 501m2. Tại Điều 2 Hợp đồng thế chấp bất động sản số công chứng 2460.2019/HĐTC. Quyển số 03TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C2 chứng nhận ngày 04/9/2019 (bút lục 443) thể hiện bên thế chấp đã thế chấp quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở cho Ngân hàng. Các công trình được thể hiện trong Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 12/9/2023 đều được xây dựng sau thời điểm thế chấp. Khoản 3 Điều 3 Hợp đồng thế chấp quy định: "...Mọi tài sản gắn liền.....TSTC trước và trong quá trình xử lý TSTC đều thuộc TSTC và Ngân hàng được quyền xử lý, cho dù tài sản đó tồn tại trước hay sau thời điểm ký hợp đồng này, cho dù tài sản đó do bên thế chấp đầu tư hay cho phép bên thứ ba đầu tư". Việc xây dựng, sửa chữa tại tài sản thế chấp cần phải được thông báo cho ngân hàng biết và được sự đồng ý bằng văn bản của ngân hàng theo điểm f, g khoản 2 Điều 7 Hợp đồng thế chấp.
Các tài sản trên đất tại số F ngõ Đ + 284 ngõ V, phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội do ông T3 xây dựng không có sự đồng ý của ngân hàng. Thậm trí khi ông T3 bắt đầu xây dựng, Ngân hàng đã có nhiều lần phản đối quyết liệt bằng nhiều hình thức: Thông báo trực tiếp và gửi đơn tới các cơ quan có thẩm quyền tại địa phương yêu cầu ngăn chặn. Mặc dù đã có Thông báo số 32/TB-UBND ngày 14/9/2022 của UBND phường K yêu cầu tạm dừng xây dựng; Biên bản vi phạm hành chính ngày 21/9/2023 của Đội Quản lý Xây dựng Đô thị quận Đ và Thông báo số 45/TB-UBND ngày 30/10/2023 của UBND phường K yêu cầu tự khắc phục trệt tự xây dựng đô thị nhưng ông T3 vẫn xây dựng. Ông T3 cho rằng việc xây dựng công trình trên đất của ông trên cơ sở Vi bằng ngày 08/7/2021 lập tại Văn phòng T7 kèm theo văn bản thỏa thuận số 0807.2021/VBTT ngày 08/7/2021 giữa Công ty I và ông T3 về việc ký 02 hợp đồng ủy quyền ngày 09/7/2021 là để hai bên thực hiện chuyển nhượng đối với tài sản tại 264 ngõ V và số F ngõ Đ + 284 ngõ V, phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội. Tài sản giữa Công ty I và ông T3 đang thực hiện chuyển nhượng theo nội dung trên đang là tài sản được thế chấp tại ngân hàng. Việc chuyển nhượng giữa Công ty I cho ông T3 không được sự đồng ý của ngân hàng. Theo quy định tại khoản 8 Điều 320 Bộ luật Dân sự 2015điểm i khoản 2 Điều 7 Hợp đồng thế chấp thì việc chuyển nhượng tài sản giữa Công ty I cho ông T3 là các tài sản bảo đảm đang được thế chấp tại Ngân hàng là không đúng quy định pháp luật.
Nên đối với các tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất tại số F ngõ Đ + 284 ngõ V, phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội đều thuộc tài sản bảo đảm cho khoản vay của Công ty I1 tại Ngân hàng.
Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng về xử lý các tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là có căn cứ.
Tại cấp sơ thẩm, ông T3 đã được triệu tập đến Tòa án trình bày nguyện vọng, quan điểm đối với yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của Ngân hàng nhưng vắng mặt nên Tòa án sơ thẩm không xem xét.
Quá trình giải quyết ở cấp phúc thẩm, Tòa án đã tiến hành kiểm tra tài sản thấy rằng sau khi Công ty I thế chấp tài sản, ông T3 (Thông qua hợp đồng ủy quyền của Công ty I) đã xây dựng mới, cải tạo, phát triển tài sản trên diện tích đất tại ngõ B Ngõ V và 63 phố Đ nhiều hạng mục (Xây dựng 03 nhà 02 tầng và 03 tầng, lắp thang máy đối với nhà khung thép cũ...) nhưng không được sự chấp thuận của Bên nhận tài sản thế chấp là Ngân hàng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, HĐXX đã dành nhiều thời gian, tạm ngừng phiên tòa nhằm tạo điều kiện để ông T3 và Ngân hàng H3 tìm phương án xử lý đối với khối tài sản do ông T3 đã đầu tư xây dựng, đầu tư trên đất Công ty I thế chấp nhưng Ngân hàng K không đồng ý thanh toán lại giá trị tài sản cho ông T3.
Đối với 02 Hợp đồng ủy quyền mang các số: 13468 quyển 03/2021 TP/CC-SCC/HĐGD và 13469 quyển 03/2021_TP/CC-SCC/HĐGD cùng ngày 09/7/2021 của Công ty I và ông T3 được xác lập và ký kết tại Văn phòng C thể hiện việc Công ty I ủy quyền cho ông T3 liên hệ với Ngân hàng liên quan đến hợp đồng thế chấp, hợp đồng tín dụng, các khế ước nhận nợ của Công ty I tại B, sau đó thực hiện giải chấp, nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và có toàn quyền định đoạt các tài sản nêu trên. Tuy nhiên các hợp đồng ủy quyền này được ký kết khi các tài sản đang được thế chấp hợp pháp tại Ngân hàng nhưng lại không được Ngân hàng đồng ý và tham gia ký kết nên không có hiệu lực pháp luật, Tòa án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng để hủy các hợp đồng ủy quyền là đúng pháp luật. Kháng cáo của ông T3 không có căn cứ chấp nhận.
Quan điểm của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Từ những nhận định trên.
Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
QUYẾT ĐỊNH
1. Giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 145/2023/KDTM-ST ngày 05 tháng 12 năm 2023 của Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
2. Về án phí phúc thẩm:
Ông Vũ Đức T3 phải chịu 2.000.000đ án phí phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 04795 ngày 11/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhân: -Các đương sự; -VKSNDTP Hà Nội; -TAND quận Ba Đình; -Chi cục THA quận Ba Đình; -Lưu hồ sơ vụ án. |
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Hạnh |
Bản án số 189/2024/KDTM-PT ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 189/2024/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: y án sơ thẩm
