Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 189/2024/DS-PT

Ngày: 24-4-2024

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Diệp.

Các Thẩm phán: Ông Trần Tuấn Vũ;

Ông Trần Thanh Tòng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phố, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bé Thi – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 90/2024/TLPT-DS ngày 22 tháng 3 năm 2024 v/v “Tranh chấp về quyền sử dụng đất”; do Bản án Dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 25 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 158/2024/QĐ-PT ngày 02 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: 1/ Anh Tạ Duy P, sinh năm 1978; địa chỉ: Tổ A, ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh; (Có mặt)

2/ Chị Vũ Ngọc M, sinh năm: 1981; địa chỉ: D L, phường H, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ liên hệ: Tổ 14, ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh; (Có mặt);

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của anh Tạ Duy P: Ông Nguyễn Văn T, thuộc Văn phòng Luật sư Nguyễn Thanh H, đoàn Luật sư tỉnh Tây Ninh.

- Bị đơn: 1/ Anh Nguyễn Thanh L, sinh năm 1970; (Có mặt)

2/ Chị Nguyễn Thị N, sinh năm: 1970; (Có mặt)

Cùng địa chỉ: Tổ A, ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện hợp pháp theo pháp luật của anh L, chị N: Anh Võ Đ, sinh năm 1995; Địa chỉ: Số B đường N, khu phố B, thị trấn T, huyện T, (theo Hợp đồng ủy quyền lập ngày 26-12-2023 được lời chứng của Công chứng viên văn phòng C vào sổ công chứng số 07013, quyển số 01/2023-TP/CC-SCC/HĐGD); (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng Thương mại cổ phần B; Địa chỉ: Tòa nhà H N, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo pháp luật: ông Ngô Quang T1 chức vụ Tổng giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đình A – chức vụ giám đốc Trung tâm Quản lý và thu hồi nợ; Địa chỉ liên lạc: E L, Phường G, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;

Ủy quyền lại cho ông Lý Thành T2; nhân viên Ngân hàng Thương mại cổ phần B – Chi nhánh T5; Địa chỉ: 3 đường C, phường C, Thành phố T, tỉnh Tây Ninh (có đơn yêu cầu vắng mặt).

Người kháng cáo: Anh Tạ Duy P và chị Vũ Ngọc M.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 31-12-2021, của nguyên đơn anh Tạ Duy P và chị Vũ Ngọc M quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa trình bày:

Năm 2013, vợ chồng anh P, chị M sinh sống cùng cha là Tạ Duy K, sinh năm 1954 và mẹ là Lê Thị Ngọc T3, sinh 1956 (chết năm 2020) có tổng diện tích 514 m², thửa đất số 138, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại Tổ A, ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh (theo giấy chứng nhận số H 00007/474/2004/QĐ-CT(HL) do UBND huyện G cấp ngày 22-02-2005) do ông Tạ Duy K đứng tên. Đến năm 2018, vợ chồng anh P, chị M được cha, mẹ tặng cho phần đất trên và đổi sang sổ mới diện tích còn lại 419,2 m² thuộc thửa đất số 3 tờ bản đồ 39 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp quyền sử dụng đất số CM 309218, số vào sổ cấp GCN: CS03256 ngày 27-02-2018 có tứ cận đất không biết nhưng có giáp ranh với đất của Anh L1, chị N và Anh T4, chị X đã lấn đất của gia đình anh.

Trong thời gian quản lý và sử dụng đất diện tích đất của gia đình anh không làm hàng rào định ranh giữa gia đình anh L1, anh T4 do phần giáp ranh gia đình anh L1 đã xây dựng ngôi nhà trên đất từ trước khi cha anh là ông Tạ Duy K tặng cho đất và phía gia đình anh không có ngăn cản hay phản đối gì.

Đến năm 2020, do gia đình anh L1, chị N thực hiện thủ tục cấp quyền sử dụng đất mới, đối chiếu theo sơ đồ đất theo giấy chứng nhận vợ chồng anh được cấp thì vợ chồng anh phát hiện anh L1, chị N đã lấn phần diện tích 5,2 m². Hiện trạng đất có xây dựng bức tường mặt sau của căn nhà anh L1, chị N. Anh P thừa nhận anh có ký cam kết không tranh chấp với gia đình anh L1, chị N, nhưng do gia đình anh L1, chị N không tôn trọng gia đình anh, xây dựng vách tường lấn sang phần diện tích đất vợ chồng anh đứng tên, anh P, chị M nên khởi kiện: yêu cầu anh L1, chị N trả lại diện tích đất 5,2 m² thuộc một phần thửa đất số 3, tờ bản đồ số 39 toạ lạc tại ấp C, xã C do anh P và chị M đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 309218, số vào sổ cấp GCN: CS03256 ngày 27-02-2018. Đối với bức tường do gia đình anh L1 xây dựng trên diện tích đất lấn, anh P, chị M yêu cầu gia đình anh L1 phải đập phá hoặc di dời để trả đất lại cho gia đình anh chị.

Tại phiên tòa, anh P chị M giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, thống nhất kết quả đo đạc, kiểm tra hiện trạng đất, định giá tài sản, không yêu cầu định giá lại. Ngoài ra không trình bày bổ sung gì thêm.

* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Thanh L, chị Nguyễn Thị N và Người đại diện hợp pháp theo pháp luật của anh L, chị N: Anh Võ Đ trình bày:

Phần diện tích nhà đất hiện anh L, chị N đang quản lý sử dụng thuộc thửa đất số 181, tờ bản đồ số 10, tổng diện tích 75,57 m² được Sở Tài Nguyên và Môi trường cấp quyền sử dụng đất số H 00045/39/2007/HĐ-CN (Hl) ngày 06-8-2007 có nguồn gốc được ông Nguyễn Văn R (cha ruột chị N) tặng cho từ năm 1994, trong đó có phần giáp với đất của gia đình ông K – cha của anh P (hướng Tây và hướng N1). Từ khi được cha tặng cho đất, vợ chồng anh, chị xây dựng căn nhà trên đất, không nhớ rõ năm, nhưng khoảng thời gian từ 1994 hay 1995 trong đó có cả bức tường xây dựng trên đất đang tranh chấp hiện nay vẫn còn, gia đình anh, chị ở trên đất ổn định và xây dựng nhà trên đất trên 30 năm, không cơi nới, sửa chữa nhà. Khi xây nhà, phía ngoài vách tường không tô vì phía nhà ông K có xây nhà, nhưng bên trong nhà anh chị tô tường, nền lót gạch men loại 30 X 30, phía sau nhà bếp tráng xi măng. Do ranh đất giữa các bên đã ở ổn định trên 30 năm, không có tranh chấp, xây dựng nhà kiên cố, vì vậy phía bị đơn không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Tòa án xem xét cho gia đình anh L được tiếp tục quản lý sử dụng diện tích đất tranh chấp trên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2023, anh L, chị N có đơn yêu cầu phản tố nội dung đề nghị anh P, chị M trả lại diện tích đất tranh chấp 5,2 m² và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh P, chị M.

Tại phiên tòa: Bị đơn trình bày do gia đình của anh P chuyển lưới tứ cận không đúng người nên bị đơn không đồng ý. Nguyên nhân bị đơn kiện vợ chồng anh P, chị M tại UBND xã C vì do đo đạc lại phát hiện hiện trạng đất bị cấp chồng lấn. Theo kết quả đo đạc bị đơn không đồng ý, do bị chênh lệch 0,2m² so với kết quả đo đạc trước đây của địa chính xã C. Kết quả xem xét thẩm định, định giá thống nhất, không yêu cầu đo đạc lại. Ngoài ra không còn trình bày bổ sung gì thêm, vì trước đây anh khởi kiện yêu cầu UBND xã C giải quyết thì địa chính xã đo đạc là 5m² nằm chung trong hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn kết quả hiện tại là 5,4m². Bị đơn thừa nhận có xây lấn của nguyên đơn 5m² nhưng nguyên đơn anh P đã đồng ý không tranh chấp, hơn nữa trước đây khi cấp quyền sử dụng đất thì không có đo đạc, không có ký tứ cận, khi xây dựng không có ai ngăn cản hay khiếu nại gì. Do đó không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Theo lời khai của Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ngân hàng B trình bày:

Ngày 13-8-2020, ngân hàng ký hợp đồng cho vay số 0172000070200, đến ngày 13-8-2027 đến hạn, số tiền vay vốn 400.000.000 đồng, mục đích vay bổ sung vốn mua bán tạp hóa, mức lãi suất 12,5%/năm, hình thức trả vào ngày 15 hàng tháng số tiền trả gốc: 4.800.000 đồng kèm theo lãi phát sinh. Tài sản thế chấp là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: số CM 309218, số vào sổ cấp GCN: CS03256 ngày 27-02-2018, diện tích 419,2 m² thuộc thửa số 3 tờ bản đồ 39 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp quyền sử dụng đất anh P, và chị M thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất là hợp pháp, bảo đảm quyền lợi cho Ngân Hàng. Về số tiền nợ, anh P, chị M không vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên Ngân hàng không tiến hành thủ tục khởi kiện đối với khách hàng.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 25 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

Căn cứ vào các Điều 166, Điều 175 của Bộ Luật Dân sự năm 2015; Điều 106, Điều 170 và Điều 195 của Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q:

- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “ Tranh chấp quyền sử dụng đất” của anh Tạ Duy P, chị Vũ Ngọc M đối với anh Nguyễn Thanh L và chị Nguyễn Thị N về việc yêu cầu anh L, chị N trả lại diện tích tranh chấp 5,4 m² thuộc phần đất thửa số 03, tờ bản đồ số 39, tọa lạc tại ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 309218, số vào sổ cấp GCN: CS03256 ngày 27-02-2018 do anh P, chị M đứng tên.

- Anh L, chị N được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng phần diện tích đất 5,4 m² thuộc thửa đất số 03, tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại ấp C, xã C có tứ cận Đông giáp thửa 181 dài 3,29 + 15,35 m; Tây giáp phần còn lại của thửa 03 dài 1,37m+0,68m + 1,99m; Nam giáp phần còn lại của thửa 03 dài 17,54m; Bắc giáp thửa 245 dài 2,04m và tài sản xây dựng trên đất.

- Anh L, chị N có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền thực hiện thủ tục thu hồi diện tích 5,4 m² thuộc thửa đất số 03, tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại ấp C, xã C có tứ cận Đông giáp thửa 181 dài 3,29+15,35 m; Tây giáp phần còn lại của thửa 03 dài 1,37m+0,68m + 1,99m; Nam giáp phần còn lại của thửa 03 dài 17,54m; Bắc giáp thửa 245 dài 2,04m theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 309218, số vào sổ cấp GCN: CS03256 ngày 27-02-2018 cho phù hợp với hiện trạng thực tế sử dụng đất được xác định tại Bản án theo quy định của pháp luật đất đai.

- Về án phí dân sự sơ thẩm:

Anh P, chị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu số 00024765 ngày 18-10-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. Anh P, chị M đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

- Về chi phí tố tụng: Anh P, chị M phải chịu tiền chi phí tố tụng 18.800.000 đồng (ghi nhận đã nộp).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án.

Nội dung kháng cáo: Theo đơn kháng cáo đề ngày 25-01-2024 Anh Tạ Duy P và chị Vũ Ngọc M có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh giải quyết sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Anh P được cha tặng cho đất vào năm 2018, diện tích 419m², có sơ đồ kèm theo hồ sơ cấp giấy thể hiện cạnh phía bắc giáp đất anh L (sau khi trừ lộ giới) thể hiện chiều dài 12 mét; phần đất của chị N, anh L được cha chị N tặng cho vào năm 2007, trong hồ sơ cấp giấy cũng có sơ đồ thể hiện cạnh đất phía nam giáp đất nhà anh P (Sau khi trừ lộ giới) thể hiện chiều dài 12 mét là phù hợp với cạnh đất hướng bắc nhà anh P. Nhưng theo sơ đồ đo đạc của Tòa án thực hiện thì thể hiện anh L, chị N sử dụng phần đất lấn chiếm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh P được cấp là 5,4m², đồng thời cạnh đất hướng nam nhà anh L dài hơn 2,9 mét; Tại biên bản hòa giải ở địa phương anh L cũng thừa nhận phần đất sử dụng có lấn chiếm của anh P 5,4m².

Tòa án cấp sơ thẩm nhận định bị đơn đã sử dụng ổn định lâu dài phần đất tranh chấp đã trên 30 năm là không đúng, bởi vì bị đơn mới được tặng cho đất từ năm 2007, phần đất tranh chấp nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn, nên không thể nói đã sử dụng trên 30 năm được. Mặt khác anh P xây nhà vào năm 2007, trước bị đơn và bức tường hiện tại bị đơn sử dụng là bức tường của nhà anh P. Nếu nói anh P cho bị đơn sử dụng phần đất tranh chấp thì phải thể hiện giấy tờ chứng minh việc tặng cho.

Từ đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn phải trả phần đất diện tích 5,4m², nếu trả bằng hiện vật làm ảnh hưởng đến kết cấu ngôi nhà của bị đơn thì phải thanh toán giá trị cho nguyên đơn.

- Đại diện cho bị đơn: Thống nhất nhận định của Tòa án cấp sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị đơn, chị N trình bày: Việc sử dụng đất là vợ chồng chị được cha cho từ năm 1994 (lúc mới sinh con đầu lòng) nhưng đến năm 2007 cha chị mới làm thủ tục tặng cho và xây nhà ở ổn định cho đến nay đã trên 30 năm. Khi xây nhà gia đình anh P không ai có ý kiến hay cản trở gì. Đến khi tôi nhờ đo đạc để làm thủ tục cấp đổi giấy phát hiện phần đất 5,2m² nằm trong giấy của anh P thì anh P cũng không có ý kiến gì, thậm chí còn cam kết không tranh chấp với vợ chồng tôi. Nhưng sau đó, không biết lý do gì anh P lại làm đơn khởi kiện. Chị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo và yêu cầu khởi kiện của anh P.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh.

+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội quy phiên tòa;

+ Về nội dung:

- Theo bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 22/02/2020 của người sử dụng đất là Nguyễn Thị N, thể hiện vị trí ranh giới, mốc giới là tường gạch, người sử dụng đất liền kề là anh P và anh T4 có ký xác nhận ranh giới, mốc giới. Tình hình biến động ranh giới: không có thể hiện (Tài liệu này có trong hồ sơ tranh chấp giữa anh P chị M và anh T4, chị X). Như vậy các đương sự đã thống nhất xác định tường gạch là ranh, mốc giới hai bên.

- Ngày 13/3/2000 tại bản xác nhận ranh giới tường để chị N làm bằng khoán đúng theo hiện trạng nhà đang ở, anh P có ký xác nhận hàng rào (tường rào B40) là của nhà anh xây dựng năm 2000 (BL 32), các bên không thắc mắc gì về sau. Tuy nhiên sau khi xảy ra tranh chấp thì anh P đã tháo bỏ tường rào, còn lại các cọc sắt không dời được.

- Tại phiên tòa sơ thẩm anh P thừa nhận trong mô tả ranh giới, mốc giới giữa hai thửa đất của chị N ngày 22/02/2020 anh P có ký tên xác nhận tứ cận đất, xác nhận ranh giới sử dụng đất và có xác nhận hàng rào của nhà anh xây dựng năm 2000, cam kết không tranh chấp với gia đình ông L, phù hợp với tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ như trên.

- Mặt khác anh P không sử dụng phần đất tranh chấp từ trước đến nay, theo hiện trạng và theo anh P thừa nhận đất tranh chấp do gia đình anh L chị N sử dụng, trên đất có bức tường gạch xây không tô nằm trong kết cấu căn nhà cấp 4 do anh L, chị N sử dụng, bức tường gạch này là một phần kết cấu gắn liền không thể tách rời với căn nhà của ông L, bà N đang sử dụng, theo anh L chị N anh chị đã xây và sử dụng ổn định từ năm 1993, trước khi anh P được cha là ông Khương t cho, nguồn gốc đất là của cha là ông Nguyễn Văn R cho con, đến năm 2007 thì anh L chị N đăng ký và được UBND huyện G cấp GCNQSDĐ, còn ông R ở từ năm 1975. Các đương sự đều thừa nhận anh L chị N xây nhà và sử dụng ổn định, không cơi nới, sửa chữa, không ai phản đối khi xây dựng.

- Tại thời điểm cấp đổi các GCNQSDĐ của hai bên đương sự (năm 2017 ông K cấp đổi, năm 2020 chị N cấp đổi) đất không có tranh chấp, không ai phản đối.

* Như vậy mặc dù diện tích đất tranh chấp (qua đo đạc thực tế là 5,4m²) nằm trong GCNQSDĐ của anh P chị M, tuy nhiên anh P không sử dụng mà anh L, chị N sử dụng ổn định, xây nhà tường kiên cố trên đất và sử dụng ổn định lâu dài; quá trình sử dụng anh P có ký cam kết, đồng ý theo ranh giới, mốc giới sử dụng hiện tại, không có ý kiến khiếu nại về sau, thể hiện việc các đương sự đã tự phân ranh, xác nhận ranh giới, mốc giới. Ranh giới, mốc giới kiên cố được các bên sử dụng ổn định lâu dài không tranh chấp. Do đó bản án sơ thẩm tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.

Nguyên đơn kháng cáo không có căn cứ chấp nhận.

Tuy nhiên, bản án tuyên anh L, chị N liên hệ với cơ quan có thẩm quyền thực hiện thủ tục thu hồi diện tích 5,4 m² theo giấy CNQSDĐ số CS03256 ngày 27-02-2018 cấp cho anh P chị M là chưa phù hợp, do đó cần điều chỉnh cách tuyên anh L, chị N có quyền, nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền thực hiện thủ tục điều chỉnh diện tích 5,4m² cho phù hợp với hiện trạng thực tế sử dụng đất được xác định tại Bản án theo quy định của pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử, không chấp kháng cáo của nguyên đơn; Giữ nguyên bản án sơ thẩm nhưng có điều chỉnh cách tuyên cho phù hợp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Sau khi Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu xét xử sơ thẩm ngày 25-01-2024, trong ngày Anh Tạ Duy P và chị Vũ Ngọc M có đơn kháng cáo; có nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm; Xét thấy việc kháng cáo là đảm bảo theo quy định của pháp luật.

[2] Xét kháng cáo thấy rằng:

[2.1] Về nguồn gốc phần đất tranh chấp: Năm 2018, vợ chồng anh P, chị M được cha là ông Tạ Duy K, sinh năm 1954 và mẹ là Lê Thị Ngọc T3, sinh 1956 (chết năm 2020) tặng cho phần đất có tổng diện tích 514 m², thửa đất số 138, tờ bản đồ sô 10 (theo giấy chứng nhận số H 00007/474/2004/Qd-CT(HL) do UBND huyện G cấp ngày 22-02-2005) đã đổi sang sổ mới do hai vợ chồng đứng tên có diện tích 419,2 m² thuộc thửa đất số 3 tờ bản đồ 39 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp quyền sử dụng đất số CM 309218, số vào sổ cấp GCN: CS03256 ngày 27-02-2018.

[2.2] Xét kháng cáo của nguyên đơn thấy rằng:

Việc sử dụng đất thực tế đã ổn định từ đời cha anh P là ông Tạ Duy K và cha của chị N là ông Nguyễn Văn R. Vào khoảng năm 1994 vợ chồng anh L, chị N đã xây dựng nhà kiên cố để ở và bức tường nhà đã nằm trên phần đất tranh chấp, ông K không có ý kiến hay tranh chấp gì. Đến năm 2020, do gia đình anh L, chị N thực hiện thủ tục cấp quyền sử dụng đất mới, đối chiếu theo sơ đồ đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phát hiện anh L, chị N đã lấn phần diện tích 5,2 m² nằm trong giấy của anh P, nên anh P có đơn khởi kiện tranh chấp.

Tuy nhiên từ lúc cha anh P còn sống đến khi anh P được tặng cho quyền sử dụng đất thì không có sử dụng phần diện tích tranh chấp. Thực tế thì gia đình bị đơn xây dựng bức tường trên đất gắn với ngôi nhà đã ổn định lâu dài nhưng ông K không có ý kiến phản đối hay tranh chấp, đến khi anh P, chị M được ông Khương tặng cho đất và nhận đất vẫn không tranh chấp hay phản đối gì. Mặt khác, tại biên bản hòa giải anh P thừa nhận đã ký tứ cận đất, xác nhận ranh và cam kết không tranh chấp với gia đình ông L kèm theo chứng cứ do bị đơn cung cấp, đối chiếu sơ đồ hiện trạng đo đạc đất thì gia đình anh P, chị M thực tế sử dụng diện tích đất 459,7 m² là nhiều hơn diện tích được cấp quyền sử dụng đất 401,3 m².

Từ các nhận định trên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ đúng pháp luật.

Anh Tạ Duy P và chị Vũ Ngọc M kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn cho rằng nguyên đơn xây nhà trước gia đình bị đơn và bị đơn đang sử dụng bức tường của nguyên đơn. Tuy nhiên tại phiên tòa anh P thừa nhận nhà anh L, chị N có trước và bức tường nhà anh L và bức tường nhà anh vẫn còn hở, không phải chồng lên nhau.

Vì vậy không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của anh Tạ Duy P và chị Vũ Ngọc M; Chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 25 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

[3] Về án phí: Do kháng cáo của anh Tạ Duy P và chị Vũ Ngọc M không được chấp nhận, nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Tạ Duy P và chị Vũ Ngọc M.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 25 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

2. Căn cứ vào các Điều 166, Điều 175 của Bộ Luật Dân sự năm 2015; Điều 106, Điều 170 và Điều 195 của Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q:

- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “ Tranh chấp quyền sử dụng đất” của anh Tạ Duy P, chị Vũ Ngọc M đối với anh Nguyễn Thanh L và chị Nguyễn Thị N về việc yêu cầu anh L, chị N trả lại diện tích tranh chấp 5,4 m² thuộc phần đất thửa số 03, tờ bản đồ số 39, tọa lạc tại ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 309218, số vào sổ cấp GCN: CS03256 ngày 27-02-2018 do anh P, chị M đứng tên.

- Anh L, chị N được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng phần diện tích đất 5,4 m² thuộc thửa đất số 03, tờ bản đồ số 39 tọa lạc ấp C, xã C có tứ cận Đông giáp thửa 181 dài 3,29 + 15,35 m; Tây giáp phần còn lại của thửa 03 dài 1,37m+0,68m + 1,99m; Nam giáp phần còn lại của thửa 03 dài 17,54m; Bắc giáp thửa 245 dài 2,04m và tài sản xây dựng trên đất.

- Anh L, chị N có quyền, nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền thực hiện thủ tục điều chỉnh diện tích 5,4m² cho phù hợp với hiện trạng thực tế sử dụng đất được xác định tại Bản án theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí:

3.1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Anh Tạ Duy P và chị Vũ Ngọc M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu số 00024765 ngày 18-10-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. Anh P, chị M đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3.2. Án phí dân sự phúc thẩm:

Anh Tạ Duy P và chị Vũ Ngọc M phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm do ông đã nộp theo biên lai thu số 0013631 ngày 25-01-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. (Đã nộp xong).

4. Về chi phí tố tụng: Anh P, chị M phải chịu tiên chi phí tố tụng 18.800.000 đồng (ghi nhận đã nộp).

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND.TTN;
  • - TAND. H. Gò Dầu;
  • - Chi cục THADS. H.Gò Dầu;
  • - Phòng KTNV. TATTN;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án DSPT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Diệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 189/2024/DS-PT ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 189/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp QSDĐ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger