|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc The semantic HTML content of the document.
RULES FOR HTML OUTPUT:
1. HEADER & FOOTER: MUST use HTML tags. DO NOT apply large margin-left or margin-right (e.g., 10%, 20%) to the main container or paragraphs. Text should fill the width naturally. Use text-align: justify for body text.
3. STYLING: Use inline CSS. Font-family: 'Times New Roman'. Font-size: 13pt or 14pt.
4. LISTS: Use tags if possible. Bản án số: 189/2024/HS-ST Ngày 23-8-2024 NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 191/2024/TLST-HS ngày 31/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 188/2024/QĐXXST-HS ngày 09/8/2024 đối với bị cáo: Lê Ngọc C, sinh ngày: 17/4/1984 tại huyện G, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Xóm G, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Lê Quang Á (đã chết) và bà Phạm Thị N - sinh năm 1959; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Vân A, có 02 con, con lớn sinh năm 2022, con nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/5/2024 đến nay. Có mặt. NỘI DUNG VỤ ÁN: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 13 giờ 50 phút ngày 15/5/2024, tổ công tác Đồn Biên phòng Cửa khẩu L phối hợp với Công an xã L làm nhiệm vụ tại bản P, xã L, huyện M tiến hành kiểm tra xe ô tô có BKS 26A-06944 do Bùi Tuấn A1, sinh năm 1996, nơi cư trú : Tiểu khu T, thị trấn Nông Trường M, huyện M điều khiển. Trên xe có Lê Ngọc C và vợ là Nguyễn Thị Vân A, sinh năm 1995, nơi cư trú : Xóm G, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định đang ngồi trên xe. Qua kiểm tra phát hiện Lê Ngọc C đang cất giấu trong túi quần bên trái 01 gói nilon màu hồng bên trong đựng các viên nén màu hồng trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY nghi là Methamphetamine. Lê Ngọc C khai nhận đó là M của C tàng trữ mục đích để sử dụng cho bản thân, việc C cất giấu ma tuý Bùi Tuấn A1 và Nguyễn Thị Vân A không biết và không liên quan. Căn cứ hành vi vi phạm của Lê Ngọc C, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng, tạm giữ của Lê Ngọc C 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A34 và dẫn giải Lê Ngọc C về Đồn Biên phòng Cửa khẩu L để điều tra, làm rõ. Ngày 16/5/2024, Đồn Biên phòng Cửa khẩu L đã tiến hành kiểm đếm các viên nén màu hồng thu giữ của Lê Ngọc C được 123 viên, xác định khối lượng được 12,7 gam, lấy 05 viên có khối lượng 0,49 gam làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu G1. Tại Kết luận giám định số 1089 ngày 16/5/2024 của phòng K Công an tỉnh S kết luận:“ Mẫu gửi giám định ký hiệu Gl là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,49 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 12,7 gam, loại Methamphetamine ". Đồn Biên phòng Cửa khẩu L quyết định khởi tố vụ án hình sự và Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu ra Quyết định chuyển vụ án đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M để điều tra theo thẩm quyền. Quá trình điều tra Lê Ngọc C, Bùi Tuấn A1, Nguyễn Thị Vân A khai nhận: Bản thân Lê Ngọc C nghiện chất ma túy. Khoảng tháng 5 năm 2024 C cùng vợ là Nguyễn Thị Vân A đi lên huyện M thuê lại Homestay Làng C tại tiểu khu C, thị trấn Nông Trường M, huyện M để kinh doanh dịch vụ nghỉ trọ và buôn bán mận hậu. Sáng ngày 15/5/2024 C gặp và mua của một người đàn ông không quen biết tự giới thiệu tên là H tại Tiểu khu C, thị trấn Nông Trường M, huyện M một gói đựng 123 viên hồng phiến với giá 2.000.000 đồng mục đích cất giấu để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được ma tuý, C cất giấu trong túi quần đang mặc, đến khoảng 13 giờ cùng ngày C cùng vợ là Nguyễn Thị Vân A thuê xe taxi của Bùi Tuấn A1 đi vào nhà Nguyễn Văn T, sinh năm 1968, Nơi cư trú : Bản Phát, xã L trao đổi với T việc thu mua mận. Sau đó, C cùng Tuấn Al và Vân A đi trên xe ô tô đến các nhà dân xung quanh mục đích thu mua mận hậu, trên đường đi tại khu vực bản P, xã L thì gặp tổ công tác Đồn Biên phòng Cửa khẩu L dừng xe để kiểm tra, phát hiện, thu giữ gói ma tuý C đang cất giấu trong người. Việc C mua, cất giấu ma tuý Bùi Tuấn A1, Nguyễn Thị Vân A và Nguyễn Văn T không biết và không liên quan. Tại phiên tòa bị cáo Lê Ngọc C trình bày ý kiến, giữ nguyên lời khai của mình, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Cáo trạng số 136/CT-VKS ngày 31/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố bị can Lê Ngọc C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Ngọc C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau: Xử phạt bị cáo Lê Ngọc C từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo. Giao trả 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung A34 màu đen cho bị cáo Lê Ngọc C quản lý, sử dụng. Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ vật chứng vụ Lê Ngọc C, bắt ngày 15/5/2024 (đựng 01 phong bì niêm phong ban đầu, 01 túi ni lon màu hồng ban đầu đựng 118 viên nén màu hồng ký hiệu L1 khối lượng 12,21 gam là Methamphetamine); 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ test thử ma túy đối của Lê Ngọc C; 01 vỏ phong bì dùng để niêm phong điện thoại. Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án. Bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: [1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của tổ công tác Đồn Biên phòng Cửa khẩu L; cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Lê Ngọc C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan Điều tra, số ma túy bị tổ công tác Đồn Biên phòng Cửa khẩu L và Công an xã L thu giữ của bị cáo vào ngày 15/5/2024 có nguồn gốc mua được của một người đàn ông với giá 2.000.000 đồng, mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện. Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Đồn Biên phòng Cửa khẩu L và Công an xã L lập vào hồi 14 giờ 00 phút ngày 15/5/2024; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định số lượng, khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; bản kết luận giám định số 1089 ngày 16/5/2024 của phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu G1 là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,49 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 12,7 gam, loại Methamphetamine” Methamphetamine nằm trong danh mục II, mục IIC, số thứ tự 247 tại Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ của cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Lê Ngọc C là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 15/5/2024 bị cáo Lê Ngọc C đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 12,7 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo Lê Ngọc C không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, bị cáo có bố đẻ là ông Lê Quang Á được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét áp dụng đối với bị cáo. Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện hút chất ma túy. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng với lỗi cố ý. Bị cáo đã có 04 tiền án về tội Trộm cắp tài sản, Cướp tài sản, Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có và Tàng trữ tái phép chất ma túy đều đã được xóa án tích và 01 tiền sự về hành vi cản trở chống người thi hành công vụ đã được xóa tiền sự, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân mà tiếp tục tái nghiện ma túy dẫn đến có hành vi phạm tội. Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung. [3] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, sống chung với gia đình, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp. [4] Về vật chứng, xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung A34 màu đen xét thấy là tài sản hợp pháp của bị cáo Lê Ngọc C, bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội, do vậy cần trả lại cho bị cáo Lê Ngọc C quản lý, sử dụng. Đối với 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ vật chứng vụ Lê Ngọc C, bắt ngày 15/5/2024 (đựng 01 phong bì niêm phong ban đầu, 01 túi ni lon màu hồng ban đầu đựng 118 viên nén màu hồng ký hiệu L1 khối lượng 12,21 gam là Methamphetamine); 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ test thử ma túy đối của Lê Ngọc C; 01 vỏ phong bì dùng để niêm phong điện thoại, xét thấy là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy. [5] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng phù hợp với khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. [6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 bộ luật Tố tụng hình sự. [7] Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông tên H đã bán ma túy cho Lê Ngọc C như C khai, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý. Đối với Nguyễn Thị Vân A và Bùi Tuấn A1 và Nguyễn Văn T quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của Lê Ngọc C, do đó không đề cập đến biện pháp xử lý. Thời hạn tạm giam của bị cáo còn trên 45 ngày nên Hội đồng xét xử không ra quyết định tạm giam đối với bị cáo. Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH: Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Lê Ngọc C 06 (S) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 15/5/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo. Giao trả 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung A34 màu đen cho bị cáo Lê Ngọc C quản lý, sử dụng. Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ vật chứng vụ Lê Ngọc C, bắt ngày 15/5/2024 (đựng 01 phong bì niêm phong ban đầu, 01 túi ni lon màu hồng ban đầu đựng 118 viên nén màu hồng ký hiệu L1 khối lượng 12,21 gam là Methamphetamine); 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ test thử ma túy đối của Lê Ngọc C; 01 vỏ phong bì dùng để niêm phong điện thoại. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Ngọc C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn). Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký)) Lương Long Bình |
