Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

Bản án số: 189/2024/HSST

Ngày: 23/4/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Hùng.
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Bà Huỳnh Thị Kim Kiên
    2. Bà Vương THị Khánh Loan
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Diệu Linh – Thư ký Tòa án nhân dân TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thành – Kiểm sát viên.

Vào ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 156/2024/HSST ngày 21 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Mai Anh P. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không.

Sinh năm 1987, tại Đồng Nai;

Nơi cư trú: số F, ấp N, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Công giáo. Nghề nghiệp: Nhân viên văn phòng. Trình độ học vấn: Lớp 12/12. Con ông Mai Đình C, sinh năm 1953 (đã chết) và bà Hà Thị L, sinh năm 1952. Gia đình có 06 anh em, bị cáo là con thứ năm, có vợ là Trần Nguyễn Phương L1, sinh năm 1990 và chưa có con. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: anh Tòng Văn Đ, sinh năm 1988 (đã chết);

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

  • + Chị Tạ Thị Kim G, sinh năm 1992 (là vợ của anh Đ).
  • + Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1967 (là mẹ ruột của anh Đ).

Cùng trú tại: Tổ B, ấp T, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (Bà H và chị G có mặt tại phiên tòa)

- Bị đơn dân sự: Công ty TNHH T2

Địa chỉ: E, Đường số A, khu phố B, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật của Công ty: ông Doãn Công Anh T – Chủ tịch hội đồng thành viên. Ủy quyền cho ông Huỳnh Thái B, sinh năm 1987. Là nhân viên pháp chế.

Địa chỉ: 6/13, đường D, phường A, Quận B, Thành phố H. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

M1 có giấy phép lái xe ô tô hạng B2, có giá trị đến ngày 07/5/2028 (được điều khiển xe ô tô chở người đến 9 chỗ ngồi).

Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 22/9/2023, P điều khiển xe ô tô biển số 51H-096.58 (xe ô tô 7 chỗ ngồi) lưu thông trên Quốc lộ A, hướng từ C đi huyện T. Khi đi đến Km 1.859+300, thuộc khu phố G, phường T, thành phố B, P phát hiện phía trước cùng chiều có một xe ô tô không rõ biển số đang lưu thông. Phi bật tín hiệu đèn, điều khiển xe chuyển sang trái để vượt xe ô tô phía trước. Do P vượt xe không đảm bảo an toàn nên khi P điều khiển xe vượt xe ô tô phía trước cùng chiều đã để xe ô tô biển số 51H-096.58 lấn sang phần đường dành cho xe chạy ngược chiều. Cùng lúc này, P phát hiện ánh đèn xe mô tô biển số 72V2-6910, do anh Tòng Văn Đ (sinh năm 1988, trú tại ấp T, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) đang lưu thông ngược lại nên P tăng ga, đánh lái cho xe đi về phía bên phải. Do khoảng cách giữa xe P điều khiển và xe của anh Đ điều khiển gần nhau nên đầu xe ô tô biển số 51H-096.58 đụng vào phần đầu xe mô tô biển số 72V2-6910 gây tai nạn giao thông. Hậu quả: Anh Đ tử vong tại hiện trường.

Tại Cơ quan điều tra, Mai Anh P đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.

* Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông ngày 22/9/2023, của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xác định như sau:

Đoạn đường xảy ra tai nạn mặt đường trải nhựa bằng phẳng, đường thẳng. đường hai chiều phân chia bằng vạch sơn màu vàng đứt quãng. Mỗi chiều đường có 02 làn đường được phân chia bằng vạch sơn màu trắng đứt quảng. Làn đường sát tim đường là làn đường dành cho xe ô tô, rộng 3,50m, làn đường còn lại là làn đường hỗn hợp rộng 4m. Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn có đèn đường chiếu sáng.

(Tất cả các dấu vết, chiều hướng đều được đo vào mép đường bên phải theo hướng từ C đi huyện T làm chuẩn và trụ điện số 62 làm mốc).

1. Là vị trí xe ô tô biển số 51H-096.58, sau tai nạn đỗ ở làn đường dành cho xe ô tô, đầu xe hướng C đi huyện T. T1 bánh xe trước bên phải cách mép chuẩn là 5m40, tâm bánh xe sau bên phải cách mép chuẩn là 5m80.

2. Là vị trí nạn nhân, tư thế nằm ngửa đầu hướng về phía Công viên 30/4, hai chân hướng về huyện T, nạn nhân nằm ở làn đường ô tô theo chiều C đi T và nằm phía trước đầu xe 1, đầu nạn nhân cách mép chuẩn là 6m70 và cách bánh xe trước bên phải xe 1 là 5m70.

3. Là xe mô tô biển số 72V-6910, sau tai nạn nằm ngã nghiêng bên phải, đầu xe hướng chếch về C, xe nằm ở giữa tim đường và nằm phía sau vị trí nạn nhân, tâm bánh xe trước cách mép chuẩn là 7m50 và cách tâm bánh xe trước bên trái xe 1 là 13m60. T1 bánh xe sau cách mép chuẩn là 7m20 và cách bàn chân phải nạn nhân 8m20.

4. Là vết cày do xe 3 tạo trên mặt đường, dài 30m đứt quãng và có chiều từ C đi huyện T. Đầu vết cày cách mép chuẩn là 8m và cách bánh sau bên trái xe 1 là 12m40, vết cày kết thúc tại gác chân trước bên phải xe 3.

5. Là vị trí trụ điện số 62 làm mốc, trụ điện đặt ở lề đường bên phải theo chiều đi từ C đi huyện T, tâm bánh xe sau bên phải xe 1 cách trụ điện là 13m70.

* Kết quả khám nghiệm phương tiện:

  • - Xe ô tô biển số 51H-096.58, nắp ca pô móp thụng, cong vênh hướng từ trước ra sau. Cản trước bị vỡ, bung khỏi vị trí ban đầu. Biển số trước bị cong vênh. Khung xe phía trước bị móp thụng hướng từ trước ra sau. Két nước phía trước bị móp thụng hướng từ trước ra sau. Hai túi khí phía trước bung khỏi vị trí ban đầu.
  • - Xe mô tô biển số 72V-6910, mặt nạ trước bị bể vỡ, bung khỏi vị trí ban đầu. Cụm đèn chiếu sáng phía trước bung khỏi vị trí ban đầu. Ốp nhựa đầu xe bể vỡ hoàn toàn. Cụm đồng hồ bung khỏi vị trí ban đầu. Yếm chắn gió hai bên bị bể vỡ. Vè chắn bùn trước bể vỡ. Niềng bánh xe trước bị cong vênh, móp thụng hướng từ ngoài vào trong. Phuộc trước và bánh xe trước gãy rời khỏi đầu xe. Đầu tay lái bên phải bị mài mòn. Đầu gác chân trước bên phải bị mài mòn. Mặt ngoài ốp bảo vệ bộ phận giảm thanh bị mài mòn. Tay dắt phía bên phải bị mài mòn.

* Tại bản kết luận giám định số 2287/KL-KTHS ngày 07/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã xác định:

Phía trước xe ô tô biển số 51H-096.58 (dấu vết xước, gãy vỡ mất sơn màu vàng và bám chất màu đen tại cản trước của xe; dấu vết trượt xước, cong vênh biển số của xe; dấu vết trượt xước, biến dạng lún về phía sau và bám chất màu đen tai khung kim loại cố định cản trước; dấu vết cong vênh, biến dạng, gãy vỡ khung kim loại cố định hệ thống làm mát, két nước và quạt làm mát, dấu vết trượt xước, cong vênh, biến dạng, bám chất màu đen mặt trước ở giữa nắp ca pô) có cùng chiều từ trước ra sau; phù hợp với va chạm phía trước đầu xe mô tô biển số 72V-6910 (dấu vết trượt xước, mất chất màu đen, rách mặt lăn ốp xe trước; dấu vết trượt xước, bể vỡ các chi tiết phía đầu xe, vành bánh trước, chắn bùn bánh trước, yếm chắn gió, ốp nhựa đầu xe, đèn chiếu sáng, đèn chuyển hướng, ốp mặt nạ; dấu vết trượt xước, mài mòn, mất chất màu đen, rách mặt lăn ốp xe trước; dấu vết gãy rời cụm trục cổ lái, giảm xóc trước, dấu vết trược xước, bám chất màu vàng tại mặt ngoài giảm xóc trước bên phải) có chiều hướng từ trước ra sau. Khi hai xe trạng thái lưu thông ngược chiều lưu thông.

* Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 428/KLGĐTT-TTPYĐN ngày 03/10/2023 của Trung tâm pháp y Sở Y kết luận nguyên nhân tử vong của nạn nhân Tòng Văn Đ như sau:

  • - Chấn thương ngực gây gãy xương sườn 1-2-3 trái, gãy ngang thân xương ức và cung xương sườn 3-4 bên phải. Tụ máu trung thất. Đứt ngang động mạch chủ đoạn xuống, dập phổi hai bên dẫn đến chảy máu khoang ngực.
  • - Chấn thương bụng gây vỡ gan phải phức tạp nhiều mảnh có mảnh rời.
  • - Kết luận khác: Nồng độ cồn và các chất ma túy trong máu: Có tìm thấy E với hàm lượng 204,87mg/100ml. Không tìm thấy M và các chất ma túy thường gặp.

Vật chứng vụ án:

  • - 01 xe ô tô biển số 51H-096.58 và 01 xe mô tô biển số 72V-6910 Cơ quan điều tra đã trao trả cho chủ sở hữu.
  • - 01 đĩa chứa dữ liệu video vụ tai nạn giao thông (Lưu giữ kèm hồ sơ vụ án).

* Trách nhiệm dân sự: M1 đã bồi thường cho gia đình bị hại Tòng Văn Đ số tiền 270.000.000₫ (Hai trăm bảy mươi triệu đồng). Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì thêm và đã bãi nại cho P.

Tại cáo trạng số 175/CT-VKSBH ngày 20 tháng 3 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Mai Anh P, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa trình bày luận tội nêu tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo điều, khoản và tội danh nêu trên; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo như sau:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường toàn bộ theo yêu cầu của gia đình bị hại và gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường thêm, đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và xin bãi nại đối với bị cáo; bị cáo có nhân thân tốt (chưa có tiền án, tiền sự). Các tình tiết giảm nhẹ này quy định tại điểm s, b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị hại Tòng Văn Đ điều khiển xe mà trong người có nồng độ cồn (Ethanol với hàm lượng 204,87mg/100ml) là đã vi phạm khoản 8 Điều 8 Giao thông đường bộ.

Về mức hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mai A Phi với mức án từ 12 đến 14 tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo pháp luật.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đã được các bên giải quyết xong, nên không đề cập đến.

Tại phiên toà, bị cáo Mai Anh P khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra, công nhận nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng, không có ý kiến bào chữa, tranh luận đối với luận tội của đại diện Viện Kiểm sát và bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi vi phạm pháp luật của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Vể tố tụng:

Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, sơ đồ hiện trường, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 22/9/2023, tại km 1.859+300, Quốc lộ A, thuộc khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Mai Anh P có giấy phép lái xe theo quy định, có hành vi điều khiển xe ô tô biển số 51H-096.58, vượt xe không đảm bảo an toàn, lấn sang phần đường dành cho xe chạy ngược chiều đã để đầu xe ô tô biển số 51H-096.58 đụng vào phần đầu xe mô tô biển số 72V-6910 do anh Tòng Văn Đ điều khiển lưu thông hướng ngược lại, gây tai nạn giao thông. Hậu quả: Anh Đ bị tử vong tại hiện trường.

[3] Về tội danh và khung hình phạt:

Hành vi của bị cáo Mai A Phi nêu trên, đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 và khoản 2 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ, gây hậu quả nghiêm trọng, làm chết 01 người. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân thành phố B đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của mình.

[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, không tuân thủ các quy tắc an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tính mạng của bị hại, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình. Việc thiếu ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ của bị cáo là nguyên nhân chính dẫn đến vụ tai nạn, gây thiệt hại đến tính mạng của nạn nhân. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo cùng với chủ sở hữu xe ô tô biển số 51H-096.58 đã bồi thường đầy đủ theo yêu cầu của gia đình bị hại, gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, có đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo và xin bãi nại; cáo lần đầu phạm tội, có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự và tại phiên tòa người đại diện của bị hại cũng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy, nguyên nhân dẫn đến tai nạn cũng có một phần lỗi của nạn nhân, điều khiển xe mô tô lưu thông trong trạng thái đã sử dụng chất có cồn (nồng độ Ethanol trong máu với hàm lượng 204,87mg/100ml). Nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

[6] Về quyết định hình phạt: Xét thấy, bị cáo là người có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội với lỗi vô ý, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, quá trình được tại ngoại không vi phạm pháp luật, có khả năng tự cải tạo, việc áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là cần thiết nhưng nếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì cũng không gây nguy hiểm cho xã hội và ảnh hưởng xấu đến việc đấu tranh phòng chống tội phạm. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo với xã hội, căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), áp dụng hình phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật, dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú của bị cáo cũng đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục bị cáo và thể hiện được tính nhân đạo của pháp luật.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Sau tai nạn, bị cáo và Công ty TNHH T3 đã phối hợp thỏa thuận và bồi thường xong các khoản bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 270.000.000₫ (Hai trăm bảy mươi triệu đồng). Tại phiên tòa người đại diện gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường thêm khoản nào và đề nghị xem xét giảm nhẹ cho bị cáo, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[8] Về xử lý vật chứng trong vụ án:

Đối với chiếc xe ô tô biển số 51H-096.58, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho Công ty TNHH T3 và chiếc xe mô tô biển số 72V-6910 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã giao trả cho chị Tạ Thị Kim G (vợ của anh Đ) là người đại diện gia đình bị hại, nên không đặt ra xem xét.

[9] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Mai Anh P phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[10] Đối với phần trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa, xét thấy phù hợp với những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định về vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mai Anh P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Về hình phạt: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm s, b khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

    Xử phạt: M1 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

    Trong trường hợp bị cáo Mai A Phi thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Mai Anh P phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại và bị đơn dân có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP Biên Hòa;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Văn Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 189/2024/HSST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 189/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mai Anh Phi phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. 2. Về hình phạt: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm s, b khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt: Mai Anh Phi 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Hố Nai 3, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo Mai Anh Phi thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger