Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HOÁ

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 189/2025/HS-ST

Ngày: 03-4-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HOÁ

---

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Liên

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Việt Cường
  2. Bà Hoàng Thị Hạnh

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Tố Quyên - Thư ký TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 186/2025/HS-ST ngày 04 tháng 3 năm 2025. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 185/2025/QĐXXST - HS ngày 18 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Lê Thành N – Sinh năm 1990; Nơi cư trú: Phố 1, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Số căn cước công dân: [...]; Nơi cấp: Cục C1 về trật tự xã hội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Kim N1, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1968; vợ, con: Chưa; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Năm 2011, bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trực tiếp xâm hại đến sức khỏe người khác”; Năm 2013 bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh nhau"; Năm 2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Năm 2021, bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Tạm giữ: 19/12/2024; tạm giam: 25/12/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T - Phân trại tạm giam khu vực thành phố T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  2. Lê Xuân Q – Sinh năm: 1977; Nơi cư trú; Phố D, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Số căn cước công dân: [...]; Nơi cấp: Cục C1 về trật tự xã hội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Xuân C (chết) và bà Nghiêm Thị Ư (chết); vợ: Trần Thị T (đã ly hôn) và có 02 con, lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Năm 2000, Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Năm 2002, Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Tạm giữ: 19/12/2024; tạm giam: 25/12/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 18/12/2024, Lê Xuân Q đang ở nhà thì Nguyễn Vũ T1, sinh năm 1985, trú tại phố H, phường Q, thành phố T đến chơi. Một lúc sau, Q đi khỏi nhà, T1 ở lại một mình thì Lê Thành N mang theo 03 viên ma túy hồng phiến đến nhà Q chơi. Lúc này, N nảy sinh ý định sử dụng ma túy nên một mình ra vườn nhà Q nhặt được 01 chai nhựa màu trắng, 01 ống hút màu xanh, 01 ống nhựa màu xanh và nhặt được trên nền nhà Q 01 giấy bạc rồi tự chế thành 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Nghị để bộ dụng cụ và 03 viên hồng phiến lên bàn uống nước trong phòng khách nhà Q. Sau đó, N bỏ 01 viên hồng phiến lên mảnh giấy bạc, dùng bật lửa có sẵn trong nhà Q đốt hồng phiến để hút. Thấy vậy, T1 xin hút cùng thì N đồng ý và dùng bật lửa đốt ma túy cho T1 hút. Hút hết viên đầu tiên thì N tiếp tục bỏ viên thứ 2 lên mảnh giấy bạc rồi N và T1 tự dùng bật lửa đốt để hút. Q về nhà thấy N và T1 đang sử dụng ma túy nên hỏi ma túy của ai thì N bảo của N mang đến. Q xin sử dụng ma túy cùng thì N đồng ý và dùng bật lửa đốt ma túy cho Q hút. Sau khi sử dụng hết viên hồng phiến thứ 2, do mảnh giấy bạc đã bị cháy xém nên Q lấy ra 01 mảnh giấy bạc khác ở dưới gầm bàn để lên bàn để tiếp tục sử dụng nốt viên hồng phiến còn lại. Thấy vậy, N bỏ viên hồng phiến thứ 03 lên mảnh giấy bạc. Nghị, T1, Q tự đốt ma túy để hút khoảng 1-2 lượt nữa thì hết ma túy rồi N đặt bộ dụng cụ xuống gầm bàn và cả ba ngồi nói chuyện. Đến 20 giờ 30 phút ngày 18/12/2024, Tổ công tác thuộc Công an thành phố T kiểm tra nhà Q, thu giữ tại gầm bàn uống nước phòng khách có 01 chai nhựa màu trắng, thân chai đục lỗ, gắn 01 đoạn ống nhựa màu xanh và 01 chiếc ống hút nhựa màu xanh; 02 mảnh giấy bạc; 01 bật lửa. Q, N, T1 đều khai nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà Q.

Kết quả xét nghiệm nhanh mẫu nước tiểu thu giữ của Lê Thành N, Lê Xuân Q, Nguyễn Vũ T1 đều dương tính với Methamphetamine.

Ngày 19/12/2024, Lê Thành N và Lê Xuân Q đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đầu thú về hành vi phạm tội và N giao nộp 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu smart, gắn các sim số 0931365398 và 0942242836; Q giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Tecno Spark Go 2023 gắn sim số 0975811977.

Về nguồn gốc số ma túy: Khoảng 15 giờ ngày 18/12/2024, N đi một mình đến khu vực phố T, phường Q, thành phố T gặp Nguyễn Văn H1, sinh năm 2001, trú tại phố T, phường Q, thành phố T và đưa cho H1 450.000 đồng nhờ mua hộ ma tuý hồng phiến. Khoảng 01 tiếng sau, H1 quay lại đưa cho N 03 viên hồng phiến, số ma tuý này N cất vào túi áo rồi đi bộ đến nhà Q chơi.

Tiến hành kiểm tra điện thoại của Lê Thành N và Lê Xuân Q không phát hiện dữ liệu, tài liệu gì liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật.

Ngày 19/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Xuân Q, kết quả: không phát hiện, thu giữ gì.

Kết luận giám định số 123/KL-KTHS ngày 24/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine trong mẫu nước tiểu thu giữ của Lê Thành N, Lê Xuân Q, Nguyễn Vũ T1 gửi giám định.

Quá trình điều tra, các bị can Lê Thành N và Lê Xuân Q đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập.

Về vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Vsmart, gắn các số thuê bao 0931365398 và 0942242836 của Lê Thành N và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Tecno Spark Go 2023 gắn số thuê bao 0975811977 của Lê Xuân Q: do không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản trên cho gia đình các bị cáo quản lý, sử dụng theo yêu cầu của các bị cáo.

Đối với 01 chai nhựa màu trắng, thân chai đục lỗ, gắn 01 đoạn ống nhựa màu xanh, 01 chiếc ống hút nhựa màu xanh; 02 mảnh giấy bạc; 01 bật lửa hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như kết luận của Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác định, phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án.

Cáo trạng số 120/CT-VKSTPTH ngày 27/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố các bị cáo Lê Xuân Q, Lê Thành N về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 255 BLHS.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã làm rõ các căn cứ phạm tội, trách nhiệm hình sự (THNS) của từng bị cáo, trong phần luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của BLHS cho các bị cáo. Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Thành N từ 08 năm 03 tháng tù đến 08 năm 06 tháng tù, Lê Xuân Q từ 08 năm đến 08 năm 03 tháng tù.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến điều kiện, nguyên nhân dẫn đến phạm tội và hoàn cảnh của từng bị cáo để cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, tại phiên tòa người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại gì, Hội đồng xét xử tiến hành theo thủ tục chung.
  2. [2]. Về hành vi phạm tội: Về lời khai tại phiên tòa hôm nay đối chiếu với lời khai của các bị cáo đã khai tại Cơ quan điều tra đều thống nhất với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng và vật chứng đã thu được cùng tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:

    Khoảng 20 giờ ngày 18/12/2024, tại nhà Lê Xuân Q ở phố D, phường Q, thành phố T, Lê Xuân Q và Lê Thành N đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nhau và cho Nguyễn Vũ T1. Đến 20 giờ 30 phút cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T kiểm tra nhà Q phát hiện thu giữ các dụng cụ liên quan đến việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

    Như vậy, hành vi của các bị cáo Lê Thành N, Lê Xuân Q đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” vì tổ chức đối với hai người trở lên nên các bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của BLHS.

    Đối với đàn ông tên H1, N khai đã mua hộ ma túy cho N vào chiều ngày 18/12/2024, tuy nhiên H1 không thừa nhận việc mua hộ ma túy cho N, ngoài lời khai của Nghị thì không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên không đủ căn cứ để xử lý.

    Đối với Nguyễn Vũ T1 là người sử dụng trái phép chất ma túy, không cấu thành tội phạm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 24/02/2025, Công an thành phố T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Vũ T1 là phù hợp quy định của pháp luật.

  3. [3]. Tính chất vụ án: Là vụ án có nhiều bị cáo tham gia, các bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xét xử, xử phạt hành chính về các tội phạm khác nhau và phải cách ly khỏi xã hội nhưng mức độ cải tạo và ý thức chấp hành pháp luật không nghiêm dẫn đến tiếp tục phạm tội. Trong vụ án này được đánh giá hành vi của các bị cáo có tính đồng phạm bởi vì khi N nảy sinh ý định sử dụng ma túy đã tự mình tìm dụng cụ trong nhà của Q, khi thấy N sử dụng ma túy thì Q không can ngăn mà chủ động xin sử dụng và cùng Q đốt dụng cụ cho nhau và cho Nguyễn Vũ T1 sử dụng.

    Mặc dù biết rõ ma túy có tác hại nhiều mặt đến đời sống, kinh tế cũng như quan hệ xã hội và ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa, thuần phong mỹ tục của dân tộc, đặc biệt hành vi sử dụng ma túy còn là một trong những tác nhân làm lây truyền căn bệnh HIV/AIDS. Người sử dụng ma túy không những làm băng hoại về đạo đức, lối sống mà thậm chí còn tổn hại đến sức khỏe, hạnh phúc gia đình, bị cáo biết rõ tác hại nhiều mặt của ma túy nhưng vẫn phạm tội.

    Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn tạo ra dư luận xấu trong nhân dân. Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, cần phải được xử lý nghiêm để giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.

  4. [4]. Vai trò của từng bị cáo trong vụ án: Lê Thành N là đối tượng chủ động khởi xướng, mua ma túy và chuẩn bị dụng cụ để sử dụng ma túy. Lê Xuân Q là chủ nhà, mặc dù biết N tổ chức sử dụng ma túy nhưng không can ngăn mà còn chủ động xin sử dụng và đốt ma túy cho mình và N, T1 cùng sử dụng.

    Như vậy, trong vụ án này được đánh giá Lê Thành N là bị cáo giữ vai trò chính, sau đó đến bị cáo Lê Xuân Q.

  5. [5]. Về trách nhiệm hình sự (TNHS) của từng bị cáo: Các bị cáo có chung tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, đầu thú theo quy định tại điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 BLHS. Tuy nhiên các bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo Lê Thành N đã 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính, 02 lần bị xét xử về các tội khác nhau. Bị cáo Lê Xuân Q đã 02 lần bị xét xử về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Tuy nhiên, Lê Thành N chủ động khởi xướng, bỏ tiền mua ma túy, tìm công cụ để tổ chức sử dụng ma túy do vậy khi quyết định hình phạt cần cho bị cáo này hưởng mức cao hơn bị cáo Lê Xuân Q là phù hợp.

    Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo cần áp dụng Điều 38 của BLHS để cách ly khỏi xã hội một thời gian đối với các bị cáo để có điều kiện cải tạo sớm trở thành người lương thiện.

  6. [6]. Về hình phạt bổ sung: Trong vụ án này các bị cáo đều có hoàn cảnh khó khăn, nghĩ nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
  7. [7]. Về vật chứng: Toàn bộ vật chứng của vụ án đã được bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 16/2023/BBVC-CCTHA ngày 23/02/2023 cần áp dụng khoản 1, 2 Điều 106 của BLTTHS để tịch thu tiêu hủy và thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định.
  8. [8]. Các tài sản là điện thoại di động, Cơ quan điều tra Công an thành phố T thu giữ khi bắt các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy đã được xác minh làm rõ và trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp là đúng pháp luật.
  9. [9]. Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Lê Thành N, Lê Xuân Q phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào: điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17; Điều 47; Điều 58 và Điều 38 của BLHS; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án

- Tuyên bố: Các bị cáo Lê Thành N, Lê Xuân Q phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt:

  1. Bị cáo Lê Thành N 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/12/2024.
  2. Bị cáo Lê Xuân Q 08 (T2) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/12/2024.

- Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 chai nhựa màu trắng, phần thân chai đục lỗ có gắn 01 đoạn ống nhựa màu xanh; 01 ống hút nhựa màu xanh; 02 mảnh giấy bạc; 01 bật lửa ga.

Toàn bộ vật chứng hiện đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 88/2025/THA ngày 28/02/2025.

- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Thành N, Lê Xuân Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Quyết định bản án được thi hành theo Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND TP. Thanh Hóa;
  • - Văn phòng CSĐT Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Các bị cáo;
  • - Chi cục THADS TP. Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Trần Thị Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 189/2025/HS-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HOÁ về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 189/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger