TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 189/2024/HS-ST
Ngày 16 tháng 12 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Việt Quang
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Lưu Văn Hà
Bà Nguyễn Thị Thanh Mai
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thanh Huệ - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Hải Nam -Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 189/2024/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 205/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Nghiêm Văn T, sinh năm 2006 tại tỉnh Vĩnh Phúc; nơi đăng ký thường trú, chỗ ở: Tổ dân phố L, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: 08/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Không xác định; mẹ đẻ là bà Nghiêm Thị T1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/8/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh V, có mặt.
- Đỗ Trường V, sinh năm 2004 tại tỉnh Phú Thọ; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Thôn Q, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Đỗ Anh T2 và bà Nguyễn Thanh H; vợ, con: Chưa có; tiền án; Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/8/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V, có mặt.
- - Người bào chữa cho bị cáo Nghiêm Văn T là: Bà Trần Thị N, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh V, có mặt.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1986; địa chỉ: Phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- - Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn T3, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 30 phút ngày 14 tháng 8 năm 2024, Tổ công tác Công an thành phố V phối hợp với Công an phường K, thành phố V làm nhiệm vụ tại khu vực đường N thuộc tổ dân phố M, phường K phát hiện bắt quả tang Đỗ Trường V có hành vi mang ma túy tinh dầu cần sa đi bán trái phép cho đối tượng Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1986, trú tại phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Vật chứng đã thu giữ:
- + Thu giữ tại lòng bàn tay phải của V 04 lọ nhựa có nắp đạy màu đen bên trong chứa dung dịch trong suốt (Vũ tự khai nhận đây là 04 lọ ma túy tinh dầu cần sa của V mang đi bán cho C nhưng chưa kịp đưa cho C thì bị bắt), vật chứng được Cơ quan Công an niêm phong vào một hộp giấy theo đúng quy định ký hiệu A1. Tạm giữ của V 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone đã cũ, qua sử dụng.
- + Thu giữ tại tay trái của Nguyễn Ngọc C số tiền 800.000đ (Tám trăm nghìn đồng), C tự khai nhận đây là tiền C1 đưa cho V để mua ma túy, nhưng chưa kịp đưa thì bị bắt.
Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và đưa các đối tượng về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan điều tra, V khai nhận nguồn gốc số ma túy tinh dầu cần sa V đem đi bán cho C1 là do mua của Nghiêm Văn T, sinh năm 2006, trú tại Tổ dân phố L, phường L, thành phố V. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V (CQĐT) tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của T tại ngõ D, đường P, phường L, thành phố V, kết quả khám xét đã phát hiện và thu giữ:
Trên nóc tủ đựng quần áo trong phòng ngủ của T 01 lọ nhựa màu đen, bên trong có chứa dung dịch màu trong suốt (T tự khai nhận đây là lọ chứa ma túy tinh dầu cần sau, T cất giấu để bán kiếm lời); 10 lọ nhựa nhỏ màu trắng, có nắp màu đen; 01 xi lanh loại 12ml/cc đã qua sử dụng, ngoài ra không thu giữ gì khác. Tổ công tác tiến hành niêm phong 01 lọ nhựa màu đen, bên trong có chứa dung dịch màu trong suốt theo quy định của pháp luật, ký hiệu A2; Tạm giữ của T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11.
Ngày 14/8/2024, CQĐT đã ra Quyết định số 2126 trưng cầu V1 Bộ C2 giám định chất ma túy trong mẫu kí hiệu A1 và A2. Tại Kết luận giám định số 6290/KL-KTHS ngày 22/8/2024 của V1 Bộ C2 kết luận: “Tìm thấy chất ma túy MDMB-4en-PINACA trong mẫu chất lỏng đựng trong 04 lọ nhựa nắp màu đen (Hộp giấy ký hiệu A1) ở lượng vết, tổng thể tích 25,0mL; Tìm thấy chất ma túy MDMB-4en-PINACA trong mẫu chất lỏng đựng trong 04 lọ nhựa nắp màu đen (Hộp giấy ký hiệu A2) ở lượng vết, tổng thể tích 32,0mL. Lượng chất MDMB-4en-PINACA có trong mẫu rất nhỏ dưới giới hạn định lượng của phương pháp nên không xác định đượng nồng độ và khối lượng chất ma túy có trong mẫu”. H1 lại đối tượng giám định gồm: 04 vỏ lọ nhựa nắp màu đen và 01 ống nhựa chứa 10,0mL chất lỏng, 01 vỏ lọ nhựa nắp màu đen và 01 ống nhựa chứa 15mL chất lỏng và toàn bộ vỏ bao gói được niêm phong số 6290/KL-KTHS. Kết luận giám định trên đã được Cơ quan điều tra thông báo cho các bị cáobiết, các bị cáođều không có thắc mắc, khiếu nại gì.
Quá trình điều tra đã xác định được: Vào khoảng 16 giờ ngày 10/8/2024, T thuê xe ôm của một người nam giới không rõ thông tin đi từ nhà đến khu vực đường C thuộc Thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc rồi vào quán Game không nhớ rõ địa chỉ cụ thể gặp một người đàn ông tên Q có đặc điểm khoảng 25 tuổi cao khoảng 1m70 nhưng không rõ thông tin cụ thể của Q. Qua nói chuyện T hỏi và mua được của Q ma túy tinh dầu cần sa được đựng trong 01 lọ nhựa màu đen với giá 1.500.000đ. Mua được ma túy, T đem về nhà dùng xi lanh chia ra thành 04 lọ nhỏ để ai hỏi mua thì bán kiếm lời, phần ma túy còn lại T cất giấu trên nóc tủ quần áo trong phòng ngủ. Đến khoảng 11 giờ ngày 14/8/2024, T nhận được cuộc gọi của Đỗ Trường V qua ứng dụng Facebook Messenger hỏi mua 04 lọ ma túy tinh dầu cần sa, T đồng ý bán với giá 600.000đ và hẹn V đến gần nhà T để mua bán ma túy. Sau đó, V thuê xe ôm của một người nam giới không rõ thông tin cụ thể đến gần nhà T rồi xuống xe đi bộ đến cổng nhà và gọi T. Thấy vậy, T đi ra ngoài và đưa cho V 04 lọ ma túy tinh dầu cần sa, V cầm 04 lọ ma túy và hẹn đến tối sẽ trả tiền cho T. Sau khi mua được ma túy, V mang ma túy đến khu vực đường N, Tổ dân phố M, phường K, thành phố V (gần nhà hàng Đ) để bán ma túy cho C1 thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang như nêu trên.
Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại về người nam giới tên Q bán ma túy cho T ngày 10/8/2024 tuy nhiên ngoài lời khai của T, không có tài liệu, chứng cứ nào khác để xác định được thông tin cụ thể do vậy Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh để làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với hai người nam giới hành nghề lái xe ôm được T và V thuê chở đi giữa các địa điểm. Quá trình di chuyển hai bên không trao đổi gì với nhau nên không ai biết thông tin của ai, cơ quan điều tra đã không đề cập xử lý.
Cáo trạng số 202/CT-VKSTPVY ngày 19/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố Nghiêm Văn T, Đỗ Trường V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) (BLHS).
Tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận cáo trạng đã truy tố đúng người đúng tội. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên luận tội và giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Nghiêm Văn T, Đỗ Trường V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 xử phạt Nghiêm Văn T từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 14/8/2024; áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 xử phạt Nghiêm Văn T từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 14/8/2024; không đề nghị phạt bổ sung với các bị cáo. Về xử lý vật chứng đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 của BLHS, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 800.000đ thu giữ của Nguyễn Ngọc C, tịch thu bán phát mại sung ngân sách 01 chiếc điện thoại Iphone thu giữ của V và 01 chiếc điện thoại Iphone 11 thu giữ của T; tịch thu tiêu hủy 10 lọ nhựa nhỏ màu trắng có nắp màu đen, 01 xi lanh loại 12 ml/cc; 04 vỏ lọ nhựa nắp màu đen và 01 ống nhựa chứa 10,0mL chất lỏng, 01 vỏ lọ nhựa nắp màu đen và 01 ống nhựa chứa 15mL chất lỏng và toàn bộ vỏ bao gói hoàn lại sau giám định.
Người bào chữa cho bị cáo Nghiêm Văn T trình bày: Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội. Quá trình điều tra vụ án đến khi xét xử, bị cáo T đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình do đó xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở mức thấp nhất có thể. Gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền, tại phiên tòa bị cáo đã viết đơn xin miễn án phí do vậy đề nghị Hội đồng xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Các bị cáo không có tranh luận và bào chữa gì. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm trở lại hòa nhập cộng đồng tu dưỡng trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản sự việc và vật chứng đã được thu giữ, cũng như kết luận giám định và các tài liệu khác. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 14/8/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Nguyễn Ngọc C gọi điện thoại cho Đỗ Trường V để mua 04 lọ ma túy tinh dầu cần sa với giá 800.000đ. V đồng ý và hẹn gặp C tại khu vực đường N thuộc Tổ dân phố M, phường K, thành phố V để mua bán ma túy. Sau đó, V thuê xe ôm đến nhà của Nghiêm Văn T tại Tổ dân phố L, phường L, thành phố V mua của T 04 lọ ma túy tinh dầu cần sa với giá 600.000đ, hẹn đến tối sẽ trả tiền cho T rồi quay lại điểm hẹn tại khu vực đường N thuộc Tổ dân phố M, phường K để bán ma túy cho C. Khi gặp nhau, V chưa kịp nhận tiền và đưa lọ ma túy cho C thì bị phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, cùng tang vật. Theo Kết luận giám định, tinh dầu cần xa đã thu giữ là chất ma túy MDMB-4en-PINACA.
Hành vi mua bán trái phép chất ma túy nói trên của Nghiêm Văn T và Đỗ Trường V là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, chất gây nghiện đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của BLHS. Nội dung điều luật có quy định: “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm..”
Như vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đối với bị cáo T và V là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện thấy rằng: Tội phạm các bị cáo thực hiện có mức cao nhất của khung hình phạt đến 7 năm tù, căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 của BLHS thì tội phạm các bị cáo thực hiện có tính chất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những là nguyên nhân gây mất trật tự trị an mà còn làm ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe của con người.
[4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:
Về nhân thân, các bị cáo đều có tuổi đời còn trẻ, không có tiền án, tiền sự, chưa từng bị xử lý vi phạm pháp luật tuy nhiên đều là người ham chơi đua đòi, lười lao động có thái độ coi thường pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình giải quyết vụ án, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Riêng bị cáo Đỗ Trường V có ông nội là người tham gia kháng chiến chống Mỹ, có công với cách mạng nên bị cáo được hưởng thêm một tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của BLHS.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.
[5] Về hình phạt chính, Hội đồng xét xử xem xét dựa trên tính chất tội phạm, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng: Để giáo dục và cải tạo được các bị cáo trở thành công dân tốt cần thiết phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian. Như vậy áp dụng hình phạt tù có thời hạn tại trại giam như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ để xem xét chấp nhận.
[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều là lao động tự do, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản nào giá trị để đảm bảo thi hành án nên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên không đề nghị áp dụng phạt tiền bổ sung là có căn cứ.
[7] Về nguồn gốc ma túy và các đối tượng có liên quan trong vụ án:
Qua lời khai của bị cáo T, về nguồn gốc số ma túy trong vụ án do T mua của một người có tên Q tại khu vực đường C thuộc thị trấn K, T vào ngày 10/8/2024. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng chưa đủ thông tin làm rõ đối tượng. Để đấu tranh triệt để với tội phạm, cơ quan điều tra cần tiếp tục xác minh và mở rộng điều tra làm rõ đối tượng bán ma túy cho T để xử lý sau theo quy định. Đối với hai người nam giới hành nghề lái xe ôm, do không biết và hành vi phạm tội của T và V nên cơ quan điều tra không để cập xử lý là có căn cứ.
Đối với Nguyễn Ngọc C là người mua ma tuý của V mục đích để sử dụng cho bản thân. Cơ quan điều tra đã xác định khi đang diễn ra hành vi mua bán giữa C và V thì bị công an phát hiện do đó C chưa đưa tiền và chưa nhận được ma tuý của V. Vì vậy cơ quan điều tra không xử lý trách nhiệm hình sự đối với C là có căn cứ.
[8] Về xử lý vật chứng của vụ án:
Đối với 10 lọ nhựa nhỏ màu trắng, có nắp màu đen; 01 xi lanh loại 12ml/cc đã qua sử dụng thu giữ tại phòng ngủ của Nghiêm Văn T, quá trình điều tra xác định: T mua số lọ nhựa và xi lanh trên để chiết ma túy tinh dầu cần sa đem bán khi có khách hỏi mua, do vậy cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 800.000đ thu giữ của Nguyễn Ngọc C là tiền Cảnh sử dụng để mua trái phép chất ma túy do vậy cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone thu giữ của V và 01 chiếc điện thoại Iphone 11 thu giữ của T là phương tiện để hai bị cáo liên lạc trao đổi mua bán ma túy do vậy cần tịch thu bán phát mại nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với chiếc điện thoại C sử dụng để gọi mua ma túy của V, do C mượng của người đi đường sau khi dùng xong đã trả lại nên Cơ quan điều tra không thu giữ được để xử lý vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Đối với 04 vỏ lọ nhựa nắp màu đen và 01 ống nhựa chứa 10,0mL chất lỏng, 01 vỏ lọ nhựa nắp màu đen và 01 ống nhựa chứa 15mL chất lỏng và toàn bộ vỏ bao gói hoàn lại sau giám định đều liên quan đến tội phạm nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.
[9] Về án phí: Các bị cáo đều phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo Nghiêm Văn T thuộc diện hộ nghèo, có đơn xin miễn án phí đối chiếu quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, Hội đồng xét xử chấp nhận miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo T.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố Nghiêm Văn T, Đỗ Trường V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 phạt Nghiêm Văn T 02 (hai) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 14/8/2024.
Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 phạt Đỗ Trường V 02 (hai) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 14/8/2024.
Áp dụng khoản 1 Điều 47 của BLHS; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 10 lọ nhựa nhỏ màu trắng, có nắp màu đen; 01 xi lanh loại 12ml/cc; 04 vỏ lọ nhựa nắp màu đen và 01 ống nhựa chứa 10,0mL chất lỏng, 01 vỏ lọ nhựa nắp màu đen và 01 ống nhựa chứa 15mL chất lỏng cùng toàn bộ vỏ bao gói hoàn lại sau giám định.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 800.000₫ đã thu giữ của Nguyễn Ngọc C.
Tịch thu bán phát mại nộp ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại Iphone thu giữ của V và 01 chiếc điện thoại Iphone 11 thu giữ của T.
(Vật chứng có đặc điểm nêu tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản tại Chi cục Thi hành án dân sự).
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc Đỗ Trường V phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nghiêm Văn T.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Việt Quang |
Bản án số 189/2024/HS-ST ngày 16/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 189/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: mua bán trái phép chất ma túy
