Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 189/2024/HS-ST

Ngày 05 tháng 12 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sơn, bà Hồ Thị Kim Liên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Phú Sang - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 191/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 193/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Minh T, sinh ngày 04 tháng 7 năm 1997 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: E, khóm H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật Giáo; con ông Nguyễn Văn V và bà Trần Hồng E; bị cáo có vợ là Lê Thị Bích D; có 01 (một) con sinh năm 2022. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố L (có mặt).

  2. Nguyễn Văn T1, sinh ngày 13 tháng 5 năm 1993 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: F, khóm H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 07/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật Giáo; con ông Nguyễn Văn D1 và bà Nguyễn Thị H; bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố L (có mặt).

  3. Đặng Ngọc Đ, sinh ngày 28 tháng 02 năm 1986 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: 12/1, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 06/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật Giáo H; con ông Đặng Ngọc H1 và bà Nguyễn Thị Kim X; bị cáo có vợ là Phạm Thị Tú A, không có con. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Năm 2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố L (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1970 (có mặt)

    Địa chỉ: Số F, khóm H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 25 tháng 3 năm 2024, Nguyễn Văn T1 đem theo ma túy đá đến nhà của Đặng Ngọc Đ, số A, khóm T, phường M, thành phố L. Sau đó khoảng 17 giờ cùng ngày thì Nguyễn Minh T cùng đến nhà Đ. Lúc này, T1 lấy ma túy đá của T1 đem theo đổ vào bình hút có sẵn tại nhà của Đ, rủ T, Đ cùng sử dụng. Sau khi T1, T, Đ sử dụng hết ma túy đá này, thì T về nhà số E, khóm H, phường M, còn T1 vẫn ở tại nhà Đ.

Đến khoảng 01 giờ ngày 26 tháng 3 năm 2024, T cần mua ma tuý để sử dụng, nhưng do không biết chỗ bán ma túy, nên T điện thoại cho T1 nhờ mua dùm Thương 1.000.000 đồng ma túy đá, thì T1 đồng ý. T đi bộ qua nhà Đ đưa 700.000 đồng và chuyển khoản 300.000 đồng cho T1. Sau đó, T1 điện thoại cho Bình T2 (chưa rõ nhân thân) mua 1.000.000 đồng ma túy đá, nhưng Bình T2 bảo chỉ còn gói ma túy đá giá 600.000 đồng, thì T1 đồng ý mua nên Bình T2 kêu T1 đến đoạn đường vắng người gần khu dân cư K, phường M để nhận ma túy đá. T1 điều khiển xe mô tô biển số 67AA-230.71 đến điểm hẹn gặp B đưa 600.000 đồng và nhận gói ma túy đá đem về nhà của Đ đưa lại cho T. Lúc này, T lấy gói ma túy đá đổ một ít vào bình hút để sẵn trong nhà Đ, còn T1 lấy cây khò đốt ma túy lên cho T và T1 sử dụng, phần ma túy còn lại T cất vào túi quần để dành sử dụng sau. Trong lúc T, T1 sử dụng ma túy, Đ thức giấc, thì T1 đưa bình hút cho Đ cùng sử dụng ma túy. Sau khi sử dụng xong, Đ, T1 và T ngủ tại nhà Đ. Đến 09 giờ ngày 26 tháng 3 năm 2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố L phối hợp Công an phường M kiểm tra hành chính nhà của Đ, phát hiện trong túi quần phía trước bên phải của T có 01 gói nilon trong suốt có rãnh khóa viền đỏ chứa tinh thể màu trắng và nhiều công cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy trong nhà Đ. T, T1, Đ khai tinh thể trắng là ma túy đá còn lại sau khi T cùng T1 và Đ sử dụng tại nhà của Đ, nên lực lượng Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Vật chứng và tài sản thu giữ: 01 gói nilon trong suốt có rãnh khóa viền đỏ chứa tinh thể màu trắng; 03 bình hút; 02 cân điện tử; 01 hộp kim loại màu đỏ; 01 hộp gỗ màu đỏ; 33 gói nilon rỗng, 01 cây kéo, 02 chai gas, 02 quẹt gas, 01 đầu khò, 23 đoạn ống thủy tinh; thu của Nguyễn Văn T1 01 bóp da màu đen, 02 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen có gắn sim số 0337.346.492 và màu xanh - đen không gắn sim, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, biển số 67AA-230.71 và 30.000.000 đồng; thu của Nguyễn Minh T 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng nhạt gắn sim số 0565.362.247; thu của Đặng Ngọc Đ: 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng - vàng gắn sim số 0945.245.853 và 0888.236.250.

Kết luận giám định số 415/KL-KTHS ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh A xác định: 01 gói nilon trong suốt có rãnh khóa viền đỏ chứa tinh thể màu trắng gửi đến giám định là ma túy, loại: Methemphetamine, khối lượng: 1,6431g.

Các biên bản xét nghiệm tìm chất ma túy ngày 26 tháng 3 năm 2024 xác định Nguyễn Minh T, Nguyễn Văn T1, Đặng Ngọc Đ dương tính với M.

Kết luận giám định số 882/KL-KTHS ngày 30 tháng 6 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh A: Xe mô tô biển số 67AA-230.71 có số khung, số máy không bị đục, sửa, cắt, hàn, tẩy xóa, hoen gỉ.

Tại Cáo trạng số 199/CT-VKSLX ngày 05 tháng 11 năm 2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố Nguyễn Minh T về các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Văn T1, Đặng Ngọc Đ về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Minh T, Nguyễn Văn T1, Đặng Ngọc Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị H xin nhận lại số tiền 30.000.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát rút một phần quyết định truy tố tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và luận tội đối với các bị cáo về các phần khác giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng.

Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn T1, Đặng Ngọc Đ mỗi bị cáo từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm a khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, từ 02 năm đến 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Minh T phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là từ 10 đến 12 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:

Tịch thu tiêu hủy đối với số chất ma túy còn lại bị thu giữ, 03 bình hút, 02 cân điện tử, 01 hộp kim loại màu đỏ, 01 hộp gỗ màu đỏ, 33 gói nilon rỗng, 01 cây kéo, 02 chai gas, 02 quẹt gas, 01 đầu khò, 23 đoạn ống thủy tinh.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung có gắn sim số 0337.346.492.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T1 01 (một) bóp da màu đen, 01 (một) điện thoại di động hiệu S1 không gắn sim và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ biển số 67AA-230.71. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Minh T 01 (một) điện thoại di động hiệu S1 gắn sim số 0565.362.247. Trả lại cho bị cáo Đặng Ngọc Đ 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung gắn 02 sim số 0945.245.853 và 0888.236.250. Trả lại cho bà Nguyễn Thị Hằng S tiền 30.000.000 đồng.

Các bị cáo không bào chữa và tranh luận gì khác, lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

[2.1] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Trong ngày 25/3/2024 và 26/3/2024, các bị cáo Nguyễn Minh T, Nguyễn Văn T1, Đặng Ngọc Đ có hành vi cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy. Trong đó, nguồn gốc ma túy sử dụng là do Nguyễn Văn T1 tự mua hoặc mua hộ cho Nguyễn Minh T để cùng với Đặng Ngọc Đ sử dụng ma túy bằng bộ dụng cụ do T1 mua trước đó tại nhà của Đ số A khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Đến 09 giờ, ngày 26 tháng 3 năm 2024 thì bị phát hiện và bắt quả tang. Các bị cáo còn khai nhận trong khoảng tháng 03/2024, các bị cáo đã nhiều lần cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy ở nhà của Đ tại địa chỉ nêu trên.

Hành vi của các bị cáo Nguyễn Minh T, Nguyễn Văn T1, Đặng Ngọc Đ đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm tù.

[2.2] Ngoài hành vi nêu trên, ngày 26 tháng 3 năm 2024 tại nhà của Đặng Ngọc Đ số A khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, bị cáo Nguyễn Minh T đã có hành vi tàng trữ 01 (một) bọc nilon trong suốt có rãnh khóa viền đỏ chứa tinh thể màu trắng qua giám định xác định là ma tuý loại Methamphetamine, có khối lượng: 1,6432g, với mục đích để sử dụng dần thì bị phát hiện và bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người. Do đó, cần xử lý nghiêm minh đối với hành vi phạm tội của các bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội và răn đe, phòng ngừa chung.

[4] Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi được thực hiện với lỗi cố ý, hiện tại trên địa bàn tỉnh An Giang các tội phạm về ma túy đang có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương và phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Vai trò của các bị cáo trong vụ án thuộc đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo T là người khởi xướng, rủ rê bằng cách đưa tiền và nhờ bị cáo T1 đi mua ma túy cùng sử dụng; bị cáo T1, Đ đều là người trực tiếp thực hiện tội phạm tích cực. Cá nhân bị cáo T còn tàng trữ ma túy để dành sử dụng. Trong vụ án này, các bị cáo đều là người trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật và phải chịu chế tài hình sự nghiêm khắc nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu về ma túy của bản thân. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo T, T1, Đ có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự khai nhận hành vi phạm tội trước đó mặc dù chưa bị ai phát hiện. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm r, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn T1 và Đặng Ngọc Đ tự nguyện đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở xem xét, đánh giá tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân các bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù để cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian phù hợp để giáo dục các bị cáo, giúp các bị cáo từ bỏ ma túy. Do đó, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo là có cơ sở chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 255 và khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền, phạt quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy, các bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[6] Đối với người liên quan trong vụ án: Đối tượng Bình T2 có hành vi bán ma túy cho T1, do chưa xác định được lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L tiếp tục điều tra để xử lý sau là phù hợp.

[7] Về vật chứng: Các vật chứng dùng vào việc sử dụng ma túy không còn giá trị sử dụng thì tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu S1 màu đen có gắn sim số 0337.346.492 bị cáo T1 sử dụng để liên lạc với người bán ma túy, còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước. Các tài sản khác không sử dụng vào việc phạm tội, vi phạm pháp luật nên cần trả lại cho các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Các bị cáo Nguyễn Văn T1, Đặng Ngọc Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

  1. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành chung cho cả hai tội là 10 (mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 26 tháng 3 năm 2024).

  2. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 26 tháng 3 năm 2024).
  3. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Đặng Ngọc Đ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 26 tháng 3 năm 2024).

Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định chứa trong 01 (một) phong bì niêm phong ghi vụ 415/KL-KTHS ngày 29/3/2024; 03 bình hút, 02 cân điện tử, 01 hộp kim loại màu đỏ, 01 hộp gỗ màu đỏ, 33 gói nilon rỗng, 01 cây kéo, 02 chai gas, 02 quẹt gas, 01 đầu khò, 23 đoạn ống thủy tinh.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung có gắn sim số 0337.346.492.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T1 01 (một) bóp da màu đen, 01 (một) điện thoại di động hiệu S1 không gắn sim và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ biển số 67AA-230.71. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Minh T 01 (một) điện thoại di động hiệu S1 gắn sim số 0565.362.247. Trả lại cho bị cáo Đặng Ngọc Đ 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung gắn 02 sim số 0945.245.853 và 0888.236.250. Trả lại cho bà Nguyễn Thị H tiền Việt Nam đồng 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng.

(Đặc điểm tang vật như Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14 tháng 11 năm 2024 giữa Cơ quan Điều tra - Công an thành phố L với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên và Giấy nộp tiền mặt số 27079956 ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1-Chi nhánh A1).

Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Nguyễn Minh T, Nguyễn Văn T1, Đặng Ngọc Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - VKSND TP.Long Xuyên;
  • - CQTHAHS Công an TP.Long Xuyên;
  • - Nhà tạm giữ - Công an TP.Long Xuyên;
  • - Chi cục THADS TP.Long Xuyên;
  • - Những người tham gia tô tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Hành chính tư pháp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Mỹ Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 189/2024/HS-ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 189/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh T, Nguyễn Văn T1, Đặng Ngọc Đ phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger