Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ QUY NHƠN,

TỈNH BÌNH ĐỊNH


Bản án số: 189/2024/HS-ST

Ngày 12/9/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Trần Duyên Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Sỹ.
  2. Ông Nguyễn Tấn Bình.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Thao là Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Văn Lê Hoài Khiêm – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 200/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 231/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Mai Thị Hà Diễm C (tên gọi khác: Trương Thị D); sinh ngày 03/5/1977 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Số nhà A, đường T, phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; cha: Không rõ, mẹ: Mai Thị B (chết); có chồng (đã ly hôn) và 02 con (lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 1996); tiền sự: Không; tiền án: 02, cụ thể:

  • - Ngày 30/6/2006 bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”;
  • - Ngày 01/9/2016 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk xử phạt 09 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/10/2022;

Nhân thân:

  • - Ngày 19/5/2000 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk xử phạt 08 tháng 01 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”;
  • - Ngày 19/12/2003 bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk xử phạt 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”;
  • - Ngày 28/02/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam xử phạt 09 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”;

Bị cáo đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam B1, tỉnh Thừa Thiên Huế (thuộc Bộ C1); có mặt.

2. Nguyễn Thị Hồng M; sinh ngày 02/5/1975 tại huyện D, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: Khối phố L, thị trấn N, huyện D, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; cha: Nguyễn H (chết), mẹ: Nguyễn Thị S; có chồng (đã ly hôn) và 01 con (sinh năm 2006); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân:

  • - Ngày 23/6/2020 bị Công an xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi đánh bạc.
  • - Ngày 31/12/2021 bị Công an thị trấn N, huyện D, tỉnh Quảng Nam xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc.
  • - Ngày 28/02/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam xử phạt 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”;

Bị cáo đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam K, tỉnh Bình Định (thuộc Bộ C1); có mặt.

- Bị hại: Anh Lê Văn G; sinh năm 1978; nơi cư trú: Xóm A, thôn T, xã P, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài nên Mai Thị Hà Diễm C bàn bạc thống nhất với Nguyễn Thị Hồng M đi trộm cắp tài sản. Vào khoảng 06 giờ 00 phút ngày 03/3/2023, M điều khiển xe mô-tô biển số 92F1-486.50 chở C đi dạo đến khu dân cư thuộc xã P, thành phố Q tìm nhà dân sơ hở thì đột nhập trộm cắp tài sản. Khi cả hai đi đến trước nhà anh Lê Văn Gxóm A, thôn T, xã P, thành phố Q thấy nhà này đóng cửa, không có người trông coi. M dừng xe, đứng trên đường cảnh giới, còn C đi bộ men theo khoảng đất trống cạnh nhà ra phía sau nhà dùng chân đạp bung chốt cửa sau rồi đột nhập vào trong. Chi lục tìm tài sản thì thấy chỗ để sữa có một con heo đất; C lấy heo đất đập bể, lấy hết tiền bỏ vào trong bịch ni lông có sẵn tại đây rồi tiếp tục đi xuống bếp, thấy một điện thoại di động cảm ứng hiệu OPPO A77S màu đen và một chiếc nhẫn vàng tango, loại vàng 18k mặt nhẫn có hình neo thuyền, đính hột nhỏ để trên bàn. C lấy bỏ vào túi ni-lông. Sau khi chiếm đoạt tài sản xong, C đi ra ngoài theo đường đã đột nhập và lên xe 92E1- 86.50 để M chở về lại nhà nghỉ. Trên đường đi, C đếm được 3.800.000 đồng, lấy 100.000 đồng mua trái cây còn lại 3.700.000 đồng. Về nhà nghỉ, C đưa điện thoại, tiền, vàng trộm được ra cho M biết, chia cho M số tiền trộm trong con heo đất là 1.700.000 đồng. Chi tự định giá chiếc nhẫn tango là 6.000.000 đồng nên chia tiền cho M 2.000.000 đồng. Chi giữ lại chiếc nhẫn tango và điện thoại di động hiệu OPPO A77S.

Đến khoảng ngày 13/3/2023, C đem điện thoại và nhẫn trộm được về thành phố B. Trên đường đi, C gặp một người phụ nữ bán hàng rong (chưa rõ lai lịch), trò chuyện làm quen rồi nhờ người này bán điện thoại OPPO A77S được 2.500.000 đồng và chiếc nhẫn vàng được hơn 6.000.000 đồng. Chi lấy 8.500.000 đồng, số tiền còn lại C cho người phụ nữ đó. Số tiền bán nhẫn và điện thoại có được Chi tiêu xài hết. Cơ quan điều tra không thu hồi được chiếc nhẫn tango và điện thoại di động OPPO A77S mà C đã bán. Ngày 24/5/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Q kết luận:

  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A77S màu đen, ram 8GB, dung lượng 128GB, số Imei 1: 866996065841779, số Imei 2: 8666996065841761 trị giá 5.900.000 đồng;
  • - 01 (một) chiếc nhẫn vàng nam tango, trên mặt nhẫn có đính vật hình neo thuyền bằng vàng, loại vàng 610, có các hạt màu trắng, trọng lượng 04 chỉ trị giá 12.800.000 đồng.

Về dân sự: Bị hại Lê Văn G yêu cầu bồi thường 22.500.000 đồng, các bị cáo chưa bồi thường.

Bản cáo trạng số 189/CT-VKSQN ngày 03/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố bị cáo Mai Thị Hà Diễm C về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự và bị cáo Nguyễn Thị Hồng M về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

Các bị cáo Mai Thị Hà Diễm C, Nguyễn Thị Hồng M thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo như nội dung của Cáo trạng và các chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập; các bị cáo đã ăn năn hối cải và xin Tòa xử phạt nhẹ.

Trong phần luận tội, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Mai Thị Hà Diễm C từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Thị Hồng M từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản".
  • - Áp dụng Điều 56 của Bộ luật Hình sự; tổng hợp hình phạt với Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 28/02/2024 của Toà án nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam đối với 02 bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 587, 589 của Bộ luật Dân sự; buộc các bị cáo Mai Thị Hà Diễm C, Nguyễn Thị Hồng M liên đới bồi thường cho bị hại Lê Văn G số tiền là 22.500.000 đồng.

Các bị cáo Mai Thị Hà Diễm C, Nguyễn Thị Hồng M thống nhất như lời luận tội của Kiểm sát viên, không có lời nào bào chữa hay tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo Mai Thị Hà Diễm C và bị cáo Nguyễn Thị Hồng M nhận thức hành vi của các bị cáo là sai trái và xin Toà xử phạt nhẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên cơ bản bảo đảm tính hợp pháp về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; các bị cáo, bị hại không có ý kiến khiếu nại.

[2] Các bị cáo Mai Thị Hà Diễm C, Nguyễn Thị Hồng M thực hiện các hành vi bị truy tố khi cả hai đều đã trên 18 tuổi, trong tình trạng không bị mất năng lực nhận thức và điều khiển hành vi nên các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Vào sáng ngày 03/3/2023, các bị cáo đã lén lút đột nhập vào nhà của anh Lê Văn G để chiếm đoạt tài sản gồm: Tiền mặt 3.800.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A77S trị giá 5.900.000 đồng; 01 chiếc nhẫn vàng nam tango trị giá 12.800.000 đồng; tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 22.500.000 đồng. Hành vi đó của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo C đã từng phạm tội, bị Toà án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt tù, chưa được xoá án tích lại phạm tội (tái phạm) và bị Toà án nhân dân tỉnh Đăk Lăk xử phạt tù, nay lại tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng và lời luận tội của Kiểm sát viên về tội danh đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Các bị cáo đều có nhân thân xấu, nhiều lần trộm cắp tài sản và bị xử phạt tù nhưng không chịu ăn năn hối cải, không lấy đó làm bài học để cảnh tỉnh bản thân, tu dưỡng làm người lương thiện; vì lười biếng, muốn có tiền tiêu xài mà không chịu lao động nên lại tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản để thoả mãn nhu cầu của bản thân; do đó, cần phải xử phạt nghiêm 02 bị cáo, cách ly khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội. Xét các bị cáo thành khẩn khai báo thuộc tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; cho nên, Hội đồng xét xử cân nhắc giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Do các bị cáo không có công việc và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo.

[4] Đối với người phụ nữ mà bị cáo C đã nhờ bán giùm tài sản trộm cắp, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Q không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.

[5] Vật chứng của vụ án không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Mai Thị Hà Diễm C và bị cáo Nguyễn Thị Hồng M chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại về tài sản cho bị hại Lê Văn G số tiền là 22.500.000 đồng theo quy định tại các Điều 584, 585, 587, 589 của Bộ luật Dân sự, trong đó mỗi bị cáo phải bồi thường cho anh G số tiền là 11.250.000 đồng.

[7] Lời đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt đối với bị cáo, về trách nhiệm dân sự cơ bản phù hợp với nhận định nêu trên.

[8] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Mai Thị Hà Diễm C và bị cáo Nguyễn Thị Hồng M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
    1. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Mai Thị Hà Diễm C 03 (ba) năm tù; tổng hợp với hình phạt 09 (chín) năm tù của Bản án hình sự số 17/2024/HS-ST ngày 28/02/2024 của Toà án nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, buộc bị cáo Mai Thị Hà Diễm C phải chấp hành hình phạt chung là 12 (mười hai) năm tù. Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung.
    2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Thị Hồng M 09 (chín) tháng tù; tổng hợp với hình phạt 05 (năm) năm tù của Bản án hình sự số 17/2024/HS-ST ngày 28/02/2024 của Toà án nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, buộc bị cáo Nguyễn Thị Hồng M phải chấp hành hình phạt chung là 05 (năm) năm 09 (chín) tháng tù. Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung.
  2. Áp dụng các Điều 584, 585, 587, 589 của Bộ luật Dân sự; buộc Mai Thị Hà Diễm CNguyễn Thị Hồng M chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại về tài sản cho anh Lê Văn G số tiền là 22.500.000 đồng, trong đó mỗi bị cáo phải bồi thường cho anh G số tiền là 11.250.000 đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc Mai Thị Hà Diễm CNguyễn Thị Hồng M mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 562.500 đồng.
  4. Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn;
  • - Cơ quan CSĐT Công an Tp. Quy Nhơn;
  • - Cơ quan THAHS Công an Tp. Quy Nhơn;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Quy Nhơn;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Trần Duyên Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 189/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 189/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt C 03 năm tù, M 09 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger