Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 189/2024/DS-PT

Ngày: 25/4/2024

V/v: Tranh chấp về thừa kế tài sản và

hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Điều Văn Hằng;
  • Các Thẩm phán: Bà Đặng Thị Thơm;
  • Ông Bùi Anh Thắng.
  • Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Hữu, Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 321/2022/TLPT-DS ngày 29 tháng 9 năm 2022 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 30/2022/DS-ST ngày 28 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 4334/2024/QĐPT-DS ngày 10 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Ông Tô T (Tô Mạnh T); Địa chỉ: Số A D, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
  • Người đại diện theo ủy quyền: Bà Tô Thị Kim O; Địa chỉ: Số D Đ, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
  • Bị đơn: Ông Ngô Xuân H và bà Tô Thị T1; Cùng địa chỉ: Tổ dân phố L, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng. Ông H có mặt, bà T1 có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Nguyễn Tiến H1 và luật sư Lưu Thanh H2 - Công ty L2, Đoàn luật sư thành phố H. Đều có mặt.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ủy ban nhân dân huyện C, thành phố Hải Phòng.
    2. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Mạnh H3 - Chức vụ: Trưởng phòng Tài nguyên và môi trường. Vắng mặt.

    3. Ngân hàng N1 chi nhánh khu vực C - Bắc H; Địa chỉ: Thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng.
    4. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Tuyên Q; Địa chỉ: Tổ dân phố L, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn là ông Tô T và đại diện theo ủy quyền là bà Tô Thị Kim O thống nhất trình bày:

Về quan hệ huyết thống: Cụ Tô Quang H4 chết năm 1983 và cụ Lương Thị L chết năm 1992. Cụ H4 và cụ L có 02 người con chung là ông Tô T, sinh năm 1939 và bà Tô Thị T1, sinh năm 1951. Ngoài ra, hai cụ không có vợ, chồng hay con chung, con riêng, con nuôi nào khác.

Về nguồn gốc diện tích đất 360m² tại Tổ dân phố L, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng: Khi còn sống, hai cụ được UBND xã H cấp cho diện tích đất 360m² tại Tổ dân phố L, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng. Tuy nhiên, trên diện tích đất này chưa có nhà ở nên hai cụ phải ở nhờ nhà ông Tô Quang D là chú ruột của cụ H4. Sau này, ông Tô Tấn R thành phố công tác ở quận L, bà T1 đi học tại Trường Đại học S. Khoảng năm 1978, cụ H4 và cụ L được UBND huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSD đất) đối với diện tích đất 360m² nêu trên. GCNQSD đất hiện nay bà T1 là người cất giữ, ông T không giữ nên không cung cấp được cho Tòa án. Năm 1980, ông T bỏ tiền ra mua nguyên vật liệu và thuê nhân công để xây nhà trên diện tích đất 360m² cho các cụ ở ổn định. Khi chết, hai cụ không để lại di chúc và cũng không tặng cho cho ai diện tích đất trên.

Năm 1993, gia đình bà Tô Thị T1 chuyển từ Bình Thuận ra Hải Phòng và sinh sống trên diện tích đất 360m² nêu trên. Thời điểm đó, bà T1 tự ngỏ ý muốn góp với ông T 03 chỉ vàng để góp phần mua nguyên vật liệu xây nhà. Ông T có nhận 03 chỉ vàng của bà T1 và giữa hai ông bà có giấy viết tay với nội dung: “Ông T nhận 03 chỉ vàng là số tiền bà T1 góp phần mua nguyên vật liệu xây nhà” chứ không có việc chuyển nhượng, tặng cho hay bán nhà, bán đất nào. Giấy viết tay trên cũng không có chữ ký hay xác nhận gì của địa phương và chỉ có 01 bản vợ chồng bà T1 giữ nên ông T không thể cung cấp cho Tòa án. Khi hòa giải tại xã, huyện, bà T1 cũng không cung cấp được Giấy viết tay nêu trên.

Đến năm 2018, ông T mới biết việc UBND huyện C đã cấp GCNQSD đất cho bà Tô Thị T1 và ông Ngô Xuân H đối với diện tích 260m² tại Tổ dân phố L, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng. Việc này là trái với quy định của pháp luật.

Do anh em trong gia đình không hòa giải được và không có tiếng nói chung nên ông T khởi kiện bà Tô Thị T1 và ông Ngô Xuân H, yêu cầu Tòa án giải quyết:

  1. Chia di sản thừa kế là diện tích đo vẽ lại thực tế là 288,5m² thuộc thửa đất số 82, tờ bản đồ số 29, có địa chỉ tại Tổ dân phố L, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng do cụ H4 và cụ L để lại. Về tài sản xây dựng trên diện tích đất 260m² do ông T xây dựng năm 1980, sau này vợ chồng bà T1 xây sửa lại thì ông không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông tự nguyện để phần tài sản trên đất cho vợ chồng bà T1 quản lý, sử dụng.
  2. Hủy GCNQSD đất của UBND huyện C cấp cho bà Tô Thị T1 và ông Ngô Xuân H đối với diện tích 260m² thuộc thửa đất số 82, tờ bản đồ số 29, có địa chỉ tại Tổ dân phố L, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng.

Bị đơn là ông Ngô Xuân H và bà Tô Thị T1 trình bày:

Về quan hệ huyết thống: Thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn.

Về nguồn gốc diện tích đất 360m² tại Tổ dân phố L, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng: Khoảng năm 1978, cụ H4 và cụ L được UBND xã H, huyện C cấp GCNQSD đất đối với diện tích đất 360m² tại Tổ dân phố L, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng. Thời gian trước đó trên diện tích đất này chưa có nhà ở nên hai cụ phải ở nhờ nhà ông Tô Quang D là chú họ của cụ H4. Ông Tô T ra ngoài thành phố công tác ở quận L, bà T1 đi học tại Trường Đại học S. Khoảng năm 1980, cụ H4 xin UBND xã H làm nhà ở và được UBND xã cho phép xây nhà trên diện tích 360m² nêu trên. Trong đó có 100m² là diện tích đất mồ mả của dòng họ Tô. Sau đó, hai cụ xây căn nhà 02 gian cấp bốn. Khi chết, hai cụ không để lại di chúc và cũng không tặng cho ai diện tích đất 360m² và căn nhà trên đất. Đến năm 1993, ông H và bà T1 chuyển từ Bình Thuận ra Hải phòng và sinh sống trên diện tích đất 360m² này. Thời điểm đó, ông H, bà T1 có nhu cầu mua nhà, ông T có nhu cầu bán nhà nên và ông T đã đồng ý để lại cho ông H, bà T1 diện tích đất 360m² và căn nhà (đã xuống cấp trầm trọng) trên diện tích đất này với giá 05 chỉ vàng. Hai bên đã giao nhận 05 chỉ vàng cho nhau và ông T đã giao hết giấy tờ nhà đất gốc cho ông H, bà T1. Khi đó, ông T lập Giấy chuyển nhượng toàn bộ diện tích 360m² và căn nhà trên đất cho em gái là bà T1 và em rể là ông H. Giấy tờ này hiện ông H và bà T1 không lưu giữ, ông bà đã nộp cho Chi cục thuế huyện C để làm thuế trước bạ. Từ năm 1995, ông H và bà T1 đã nộp đầy đủ nghĩa vụ thuế cho Nhà nước. Năm 2000, ông H lập giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất với nội dung chuyển nhượng phần đất mổ mả ở phía sau là 78m² cho ông Tô Hoàn H5 ở Quảng Ninh (hiện đã chết). Đến năm 2001, ông H, bà T1 được UBND huyện C cho phép hợp thức hóa đất làm nhà ở theo Quyết định số 263 ngày 03/5/2001 của UBND huyện C với diện tích 260m². Năm 2013, UBND huyện C đã cấp GCNQSD đất số BM 478699 ngày 17/12/2013 cho ông H, bà T1 với diện tích 260m² thuộc thửa đất số 82, tờ bản đồ số 29, có địa chỉ tại Tổ dân phố L, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng. UBND huyện C đã trả lời và khẳng định việc cấp GCNQSD đất nêu trên là đúng theo quy định pháp luật. Từ năm 1993 đến nay, gia đình ông H, bà T1 sử dụng đất ổn định và giữ nguyên hiện trạng, không có tranh chấp với ai. Ông H và bà T1 bỏ tiền ra xây căn nhà vào năm 2015. Tại thời điểm này, các con của ông H, bà T1 còn nhỏ, không đóng góp công sức và tiền vào việc xây nhà.

Vào năm 2017, ông H và bà T1 đã thế chấp quyền sử dụng diện tích đất 260m² đã được UBND huyện C cấp GCNQSD đất số BM 478699 ngày 17/12/2013 đứng tên ông bà cho N hàngNông nghiệp và N1 chi nhánh K - B vay số tiền 250.000.000đồng với mục đích trả tiền xây nhà. Thời hạn vay theo Hợp đồng tín dụng ký kết với Ngân hàng là 05 năm. Dự kiến đến tháng 9 năm 2022, ông H và bà T1 sẽ trả được hết số tiền 250.000.000đ (nay còn nợ lại khoảng 12.000.000đ) và lấy được GCNQSD đất về. Hiện nay có chị Ngô Hoài T2, sinh năm 1982 (chưa có chồng con) ở cùng với ông H và bà T1 trên diện tích đất đang tranh chấp. Ông H và bà T1 khẳng định toàn bộ diện tích đất 260m² và căn nhà trên đất là tài sản riêng của vợ chồng, không liên quan đến dòng họ Tô.

Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Tố T3: Ông H và bà T1 không đồng ý vì ông bà là người được quyền quản lý, sử dụng hợp pháp diện tích đất 260m² nêu trên. Ông bà đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, yêu cầu Tòa án giải quyết theo pháp luật.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng N1 chi nhánh khu vực C - Bắc H trình bày:

Ông Ngô Xuân H và bà Tô Thị T1 vay vốn tại A Chi nhánh khu vực C Hải Phòng theo Hợp đồng tín dụng số 2103-LAV-201700246 ngày 21/09/2017. Để đảm bảo cho khoản vay trên ông Ngô Xuân H và bà Tô Thị T1 đã thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất, diện tích 260m², tại thửa đất số 82, tờ bản đồ số 29, địa chỉ tại tổ dân phố L, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng (giấy tờ tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BM 478699, số vào số cấp GCN: CH00215CH do UBND huyện C cấp ngày 17/12/2013 cho ông Ngô Xuân H và vợ là bà Tô Thị T1) theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất số 50/TCTS/2017 ngày 18/09/2017 đã được Văn phòng công chủng Cát Bà chứng nhận ngày 18/09/2017, công chứng 375, Quyền số: 01/2017 TP/CC-SCC/HĐGD và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng dăng ký đất đai chi nhánh huyện K ngày 21/09/2017.

Việc yêu cầu khởi kiện của ông Tô T là vụ án tranh chấp thừa kế tài sản giữa anh em trong gia đình. Tại thời điểm cho vay và nhận thế chấp, A Chi nhánh khu vực C Hải Phòng đã thực hiện đúng theo quy định của Pháp luật, của Ngân hàng N2 và của A. Ông H, bà T1 không vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Do vậy, Ngân hàng yêu cầu ông Ngô Xuân H và bà Tô Thị T1 có trách nhiệm tiếp tục thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ theo hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp nêu trên.

Ý kiến của UBND huyện C:

  1. Về nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng của diện tích đất 260m²:
    1. Giai đoạn từ khoảng năm 1968 đến năm 1980:
    2. Ngày 02/11/1980, ông Tô Quang H4 làm đơn xin phép làm nhà ở, gửi UBND xã H; ngày 18/11/1980, Chủ tịch UBND xã H là ông Phạm Văn L1 đã phê trực tiếp vào đơn, cho phép ông H4 xây nhà trên thửa đất có diện tích 360m², phía sau đất của ông Tô Quang T4 (là thửa đất hiện đang có tranh chấp về quyền thừa kế), tại xóm H, xã H; phần diện tích này có khoảng 100m² là diện tích đất có mồ mả của dòng họ T5 - H.

      Ông Tô T là người đứng ra mua nguyên vật liệu để xây dựng nhà cho ông H4, bà L. Ông H4, bà L sinh sống ổn định trên thửa đất nêu trên vào mục đích để ở.

      Trong giai đoạn này, ông Tô T và bà Tô Thị T1 đã rời khỏi xã H (nay là thị trấn C), không sống chung với ông H4, bà L cụ thể: Năm 1960, ông Tô T đã chuyển lên Hải Phòng nhận công tác tại U (nay là quận L, Hải Phòng). Khoảng năm 1967, bà Tô Thị T1 đi học đại học tại Hà Nội, sau đó kết hôn với ông Ngô Xuân H và chuyển về Quảng Trị sinh sống.

    3. Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992:
    4. Sau khi được UBND xã H cho phép, ông H4, bà L đã xây nhà và một số công trình phục vụ việc sinh hoạt trên thửa đất và sử dụng ổn định vào mục đích để ở.

      Ngày 25/4/1983, ông Tô Quang H4 chết, bà Lương Thị L tiếp tục sinh sống trên thửa đất này đến năm 1992; ngày 20/11/1992, bà Lương Thị L chết. Ông H4, bà L chỉ có 02 người con đẻ là ông Tô T và bà Tô Thị T1, tuy nhiên, giai đoạn này, ông Tô T và bà Tô Thị T1 vẫn không sinh sống tại C, vì vậy, thửa đất tạm thời chưa có người sử dụng.

      Theo Sổ đăng ký ruộng đất thị trấn C lập năm 1985 - lập sau thời điểm ông H4, bà L sử dụng đất, không có tên ông Tô Quang H4 hoặc tên của bà Lương Thị L. Theo Bản đồ giải thửa được can vẽ lại năm 1992 từ Bản đồ giải thửa lập năm 1985 của xã H và xã G, thửa đất gia đình ông H4, bà L sử dụng được thể hiện là thửa số 446, tuy nhiên, Bản đồ không đề tên hộ gia đình, tại Sổ đăng ký ruộng không ghi nhận thửa đất số 446.

    5. Giai đoạn từ năm 1993 đến nay:
    6. Vào năm 1993, bà Tô Thị T1 và chồng là ông Ngô Xuân H (viết tắt là ông H, bà T1) từ Quảng Trị chuyển ra Bắc, về nhận công tác tại Trường C. Do không có nhà ở, ông Tô T và bà Tô Thị T1 đã thống nhất để vợ chồng ông H, bà T1 ở trên thửa đất do bố mẹ để lại; ông Tô T đã nhận của ông H, bà T1 một số vàng (việc nhận vàng do ông T và bà T1 thừa nhận tại các buổi làm việc ngày 12/10/2018 do UBND thị trấn C tổ chức và ngày 08/8/2019 do UBND huyện tổ chức).

      Tuy nhiên, không thu thập được Giấy biên nhận vàng, việc giao nhận vàng không có người làm chứng, vì vậy không xác minh được thông tin về số lượng cụ thể và nội dung việc giao nhận vàng giữa hai bên.

      Ngày 28/12/1994, ông H, bà T1 lập Tờ khai chuyển dịch tài sản và nộp lệ phí trước bạ đối với ngôi nhà ở lợp ngói, nội dung thể hiện bên chuyển dịch tài sản là ông Tô T và bên nhận chuyển dịch tài sản là bà Tô Thị T1. Tờ khai được Chi cục thuế C kiểm tra thông tin, tính số lệ phí phải nộp và ký xác nhận ngày 29/12/1994.

      Trên cơ sở số lệ phí do Chi cục thuế C tính tại Tờ khai, ngày 29/12/1994, ông Ngô Xuân H nộp đủ số tiền lệ phí trước bạ do nhận chuyển dịch tài sản tại Chi cục thuế C (có Biên lai thu lệ phí trước bạ).

      Từ năm 1995, ông Ngô Xuân H đại diện hộ gia đình nộp tiền thuế nhà nhất với cơ quan thuế (có Biên lai nộp thuế nhà đất các năm 1995, 1998, 1999).

      Năm 2001, ông H, bà T1 được UBND huyện cho phép hợp thức hóa đất làm nhà ở theo Quyết định số 263/QĐ-UB ngày 03/5/2001, diện tích 260m². Năm 2013, ông H, bà T1 được UBND huyện cấp GCNQSD đất số BM 478699 ngày 17/12/2013 đối với thửa đất đã hợp thức, diện tích 260m².

      Từ năm 1993 đến nay, gia đình ông H, bà T1 sử dụng đất ổn định, liên tục vào mục đích để ở với diện tích 260m², không bao gồm phần diện tích đất có mồ mả của dòng họ T5 - H.

  2. Về việc cấp GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với diện tích 260m²:
  3. Thửa đất số 82, tờ bản đồ số 29, diện tích 260m², mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị; địa chỉ tại Tổ dân phố L, thị trấn C, huyện C đã được UBND huyện C cấp GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BM 478699 ngày 17/12/2013 mang tên ông Ngô Xuân H và bà Tô Thị T1.

    Việc đăng ký cấp GCNQSD đất của bà Tô Thị T1 và ông Ngô Xuân H cụ thể như sau:

    Ngày 09/7/2013, bà T1, ông H nộp đơn đề xin cấp GCNQSD đất đối với thửa đất đã được cấp hồ sơ hợp thức hóa từ năm 2001. Ngày 08/9/2013, UBND thị trấn C xác nhận nguồn gốc và tình trạng tranh chấp đối với thửa đất vào đơn của bà T1, ông H.

    Ngày 13/9/2013, Phòng T6, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất và UBND thị trấn C tiến hành đo đạc, xác định ranh giới mốc giới, lập mảnh trích đo địa chính đối với thửa đất.

    Từ ngày 27/9/2013 đến hết ngày 17/10/2013, UBND thị trấn C tiến hành công khai hồ sơ đề nghị cấp GCNQSD đất của ông H, bà T1. Trong thời gian công khai, UBND thị trấn không tiếp nhận ý kiến kiến nghị, phản ánh nào có liên quan đến nguồn gốc, quá trình sử dụng đất đối với thửa đất đề nghị cấp GCNQSD đất của ông H, bà T1.

    Ngày 29/11/2018, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất xác nhận điều kiện cấp GCNQSD đất vào đơn của bà T1, ông H.

    Sau khi bà T1, ông H hoàn thành nghĩa vụ tài chính, ngày 17/12/2013, UBND huyện C ban hành Quyết định số 2307/QĐ-UBND về việc cấp GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Ngô Xuân H vợ là bà Tô Thị T1, và cấp GCNQSD đất số BM 478699 ngày 17/12/2013 mang tên ông Ngô Xuân H vợ là bà Tô Thị T1, với các thông tin: Thửa đất số 82, tờ bản đồ số 29, địa điểm tại: Tổ dân phố L, thị trấn C, huyện C, diện tích: 260m²; mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị; thời hạn sử dụng: lâu dài.

    Thành phần hồ sơ đăng ký cấp GCNQSD đất gồm: Đơn đề nghị ngày 09/7/2013; Quyết định hợp thức hóa đất làm nhà ở năm 2001; Biên bản xác định ranh giới mốc giới ngày 13/9/2013; Trích đo địa chính; Chứng minh nhân dân của ông H và bà T1; P chuyển thông tin địa chính; Biên lai thu lệ phí trước bạ ngày 29/12/1994; Tờ khai lệ phí trước bạ nhà đất; Thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà đất; giấy nộp tiền vào Ngân sách nhà nước.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 30/2022/DS-ST ngày 28/7/2022, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng quyết định:

Căn cứ vào 5 Điều 26; Điều 35; Điều 37; điểm e khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào khoản 2 Điều 149, Điều 623, điểm c khoản 2 Điều 618 của Bộ luật Dân sự; Căn cứ vào Điều 12, khoản 7 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu yêu cầu khởi kiện của ông Tô T về việc chia tài sản thừa kế của cụ Lương Thị L là quyền sử dụng đất 144,25m² tại thửa số 82 tờ bản đồ 29, địa điểm thửa đất: Tổ dân phố L, thị trấn C, huyện C, Hải Phòng.

Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Tô T về việc chia tài sản thừa kế của cụ Tô Quang H4 do đã hết thời hiệu thừa kế.

Quyền sử dụng đất 144,25m² tại thửa số 82 tờ bản đồ 29, địa điểm thửa đất: Tổ dân phố L, thị trấn C, huyện C, Hải Phòng là tài sản thừa kế của Tô Quang H4 do đã hết thời hiệu thừa kế thuộc quyền quản lý của bà Tô Thị T1.

Bà Tô Thị T1 được quản lý, sử dụng diện tích đất 288,5m² tại thửa số 82 tờ bản đồ 29, địa điểm thửa đất: Tổ dân phố L, thị trấn C, huyện C, Hải Phòng.

Bà Tô Thị T1 có trách nhiệm thanh toán cho ông Tô T 351.648.000 đồng tương đương giá trị đất 48m² là tài sản thừa kế của ông Tô T được hưởng.

Ông T được nhận tài sản thừa kế là 351.648.000 đồng do bà Tô Thị T1 phải có trách nhiệm thanh toán cho ông Tô Tấn .

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Không hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH 00215CH ngày 17/12/2013 của Ủy ban nhân dân huyện C, Hải Phòng cấp cho ông Ngô Xuân H và bà Tô Thị T1 diện tích đất 260m² tại thửa số 82 tờ bản đồ 29, địa điểm thửa đất: Tổ dân phố L, thị trấn C, huyện C, Hải Phòng.

Bà Tô Thị T1 và ông Ngô Xuân H có trách nhiệm liên hệ với Ủy ban nhân dân huyện C, Hải Phòng để đăng ký lại quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 288,5m² tại thửa số 82 tờ bản đồ 29, địa điểm thửa đất: Tổ dân phố L, thị trấn C, huyện C, Hải Phòng theo quy định của Luật Đất đai.

Ủy ban nhân dân huyện C, Hải Phòng có trách nhiệm đăng ký lại quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 288,5m² tại thửa số 82 tờ bản đồ 29, địa điểm thửa đất: Tổ dân phố L, thị trấn C, huyện C, Hải Phòng cho bà Tô Thị T1 và ông Ngô Xuân H khi có yêu cầu.

Bà Tô Thị T1 và ông Ngô Xuân H có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện Hợp đồng tín dụng số 2103-LAV-201700246 ngày 21/09/2017 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất số 50/TCTS/2017 ngày 18/09/2017 đối với Ngân hàng N1 chi nhánh khu vực C - B Hải Phòng.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 09/8/2022, ông Tô T kháng cáo đối với một phần bản án sơ thẩm.

Ngày 22/8/2022, ông Ngô Xuân H và bà Tô Thị T1 kháng cáo quá hạn một phần bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự trình bày:

Bên nguyên đơn có ý kiến trình bày như sau:

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Nguồn gốc thửa đất các bên đều thừa nhận của bố mẹ nguyên đơn và bị đơn là cụ H4, cụ L để lại. Việc bị đơn kê khai cấp GCNQSD đất mà không có tài liệu căn cứ chứng minh được bố mẹ cho tặng hay chuyển nhượng là trái pháp luật. Do đó, phải xác định đây là di sản của ông bà để lại. Đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Bên bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp có ý kiến trình bày như sau:

Bản án sơ thẩm xác định di sản thừa kế không đúng, vì đất này đã được cấp GCNQSD đất cho 2 vợ chồng bị đơn, nhà do cụ H4, cụ L xây. Việc đánh giá chứng cứ chưa khách quan, ông T không có hóa đơn chứng từ mua vật liệu xây dựng. Thực tế đã có sự mua bán giữa nguyên đơn và vợ chồng bị đơn đối với phần di sản thừa kế do bố mẹ để lại; ông T bán nhà mà không bán đất là vô lý. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành giải quyết vụ án đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đã tạo điều kiện cho các bên hòa giải tại phiên tòa, các bên được trình bày ý kiến công khai, tranh luận một cách dân chủ, thành phần Hội đồng xét xử và phạm vi xét xử phúc thẩm đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Cụ H4 chết năm 1983, cụ L chết năm 1992; ngày 14/9/2018 ông T có đơn gửi UBND thị trấn C đề nghị chia thừa kế di sản của hai cụ để lại. Theo quy định của pháp luật việc giải quyết tranh chấp thừa kế không phải hòa giải tại cơ sở và cũng không thuộc thẩm quyền của UBND các cấp. Tuy nhiên, UBND thị trấn C và UBND huyện C vẫn thụ lý, giải quyết. Đến ngày 16/10/2020, UBND huyện C mới có Thông báo số 804/TB-UBND trả lời ông T, trong đó có nội dung xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp thừa kế thuộc Tòa án và đề nghị ông T làm đơn đến Tòa án để giải quyết. Tuy nhiên, tính đến ngày 16/10/2020 thời hiệu khởi kiện chia di sản của cụ H4 đã hết. Trong trường hợp này, thời gian từ khi UBND thị trấn C thụ lý đơn của ông T đến ngày 16/10/2020 là ngày UBND huyện C thông báo cho ông T về thẩm quyền giải quyết là trở ngại khách quan (do UBND thị trấn C và UBND huyện C thụ lý, giải quyết không đúng thẩm quyền) dẫn đến ông T không thực hiện được quyền khởi kiện trong thời hiệu chia di sản của cụ H4 vẫn còn. Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào việc gửi đơn khởi kiện của ông T để xác định di sản của cụ H4 đã hết thời hiệu là không đúng. Bên cạnh đó, Tòa án cấp sơ thẩm trong quá trình giải quyết vụ án chưa làm rõ về tính chất pháp lý của Quyết định số 263/QĐ-UB ngày 03/5/2001 về việc hợp thức hóa đất làm nhà ở cho ông Ngô Xuân H của UBND huyện C; quyền được thừa kế đối với đất ở theo quy định của pháp luật mà đã xác định di sản thừa kế của cụ H4, cụ L là 288,5m² các bên đang tranh chấp là chưa đủ cơ sở vững chắc. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về cấp có thẩm quyền giải quyết lại theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ, đơn kháng cáo; qua nghe các đương sự trình bày, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao phát biểu quan điểm và căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, kết quả tranh tụng tại phiên toà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

[1]. Vụ án này là tranh chấp về thừa kế tài sản và hủy GCNQSD đất nên thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng theo quy định tại khoản 5 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

[2]. Theo tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện, ngày 02/11/1980, cụ Tô Quang H4 làm đơn xin phép làm nhà ở trên diện tích đất 360m² tại thửa đất 446 bản đồ giải thửa năm 1985 tại tiểu khu L, thị trấn C, huyện C, Hải Phòng (nay là thửa số 82 tờ bản đồ 29). Sau khi được UBND xã H cho phép, ông H4, bà L đã xây nhà và một số công trình phục vụ việc sinh hoạt trên thửa đất và sử dụng ổn định vào mục đích để ở. Theo ông Tô T trình bày ông là người đứng ra mua nguyên vật liệu để xây dựng hai gian nhà cấp 4 nhà cho cụ H4, cụ L sinh sống ổn định trên thửa đất nêu trên vào mục đích để ở. Ngày 25/4/1983, ông Tô Quang H4 chết, bà Lương Thị L tiếp tục sinh sống trên thửa đất này đến năm 1992; ngày 20/11/1992, bà Lương Thị L chết. Ông H4, bà L chỉ có 02 người con đẻ là ông Tô T và bà Tô Thị T1, tuy nhiên, giai đoạn này, ông Tô T và bà Tô Thị T1 không sinh sống tại C, do vậy, thửa đất tạm thời chưa có người sử dụng. Ông H, bà T1 cho rằng vào thời điểm năm 1993, ông bà có nhu cầu mua nhà, ông T có nhu cầu bán nhà ông T đã đồng ý để lại cho ông H, bà T1 diện tích đất 360m² và căn nhà trên diện tích đất này với giá 05 chỉ vàng. Hai bên đã giao nhận 05 chỉ vàng cho nhau và ông T đã giao hết giấy tờ nhà đất gốc cho ông H, bà T1. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà T1 thừa nhận việc giao 05 chỉ vàng không thiết lập văn bản, tuy nhiên tại các biên bản làm việc tại UBND thị trấn C, ông T đã thừa nhận có nhận của bà T1 03 chỉ vàng để chuyển 02 gian nhà, 01 giếng nước cùng công trình phụ. Tại phiên tòa sơ thầm và phúc thẩm, phía ông T không có tài liệu, hóa đơn chứng minh mình mua nguyên vật liệu cho bố, mẹ xây nhà.

[3] Theo Sổ đăng ký ruộng đất thị trấn C lập năm 1985 - lập sau thời điểm ông H4, bà L sử dụng đất, không có tên ông Tô Quang H4 hoặc tên của bà Lương Thị L. Theo Bản đồ giải thửa được can vẽ lại năm 1992 từ Bản đồ giải thửa lập năm 1985 của xã H và xã G, thửa đất gia đình ông H4, bà L sử dụng được thể hiện là thửa số 446, tuy nhiên Bản đồ không đề tên hộ gia đình, tại Sổ đăng ký ruộng không ghi nhận thửa đất số 446. Do vậy, không tài liệu, căn cứ nào thể hiện cụ H4 và cụ L đã được UBND huyện C hoặc cơ quan có thẩm quyền cấp GCNQSD đất đối với diện tích đất 360m² tại tổ dân phố L, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng. Sau khi cụ H4 và cụ L chết, (cụ L chết năm 1992), các đương sự thừa nhận từ năm 1993 đến nay, gia đình ông H và bà T1 sử dụng đất ổn định, liên tục vào mục đích để ở với diện tích 260m², không bao gồm phần diện tích đất có mồ mả của dòng họ T5 – xã H và ông Tô T không sinh sống trên mảnh đất này. Ngày 28/12/1994, ông H, bà T1 lập Tờ khai chuyển dịch tài sản và nộp lệ phí trước bạ đối với ngôi nhà ở lợp ngói, nội dung thể hiện bên chuyển dịch tài sản là ông Tô T và bên nhận chuyển dịch tài sản là bà Tô Thị T1. Tờ khai được Chi cục thuế C kiểm tra thông tin, tính số lệ phí phải nộp và ký xác nhận ngày 29/12/1994, cùng ngày ông Ngô Xuân H nộp đủ số tiền lệ phí trước bạ do nhận chuyển dịch tài sản tại Chi cục thuế C (có Biên lai thu lệ phí trước bạ). Từ năm 1995, ông Ngô Xuân H đại diện hộ gia đình nộp tiền thuế nhà nhất với cơ quan thuế (có Biên lai nộp thuế nhà đất các năm 1995, 1998, 1999). Năm 2001, UBND huyện C ban hành Quyết định số 263/QĐ-UB ngày 03/5/2001s về việc hợp thức hóa đất làm nhà ở cho ông Ngô Xuân H, diện tích 260m², số thửa 1563, địa điểm tại khu L để sử dụng làm nhà ở, đất ở.

[4] Tại Điều 4 Nghị định số 30/HĐBT ngày 23/3/1989 quy định: “Người đang sử dụng đất hợp pháp là người được cấp GCNQSD đất; người có tên trong sổ địa chính”.

Theo quy định tại Điều 14 luật Đất đai năm 1987: “Nhà nước thu hồi toàn bộ hoặc một phần đất đã giao sử dụng trong những trường hợp sau đây:

  1. Tổ chức sử dụng đất bị giải thể, chuyển đi nơi khác, hoặc bị thu hẹp mà giảm nhu cầu sản xuất;
  2. Tất cả số người trong hộ sử dụng đất đã chuyển đi nơi khác hoặc đã chết;
  3. Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất được giao;
  4. Thời hạn sử dụng đất đã hết;
  5. Người sử dụng đất không sử dụng đất được giao trong 6 tháng liền mà không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất đó cho phép;
  6. Người sử dụng đất vi phạm nghiêm trọng những quy định về sử dụng đất;
  7. Đất giao không đúng thẩm quyền quy định tại Điều 13 của Luật này;
  8. Cần sử dụng đất cho nhu cầu của Nhà nước hoặc của xã hội”.

[5] Năm 2013, ông H, bà T1 đã được UBND huyện C cấp GCNQSD đất số BM 478699 ngày 17/12/2013 đối với thửa đất đã hợp thức, diện tích 260m². GCNQSD đất là chứng thư pháp lý, để Nhà nước - người quản lý xác nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với người được Nhà nước giao đất để sử dụng. Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Quyết định số 263/QĐ-UB ngày 03/5/2001 về việc hợp thức hóa đất làm nhà ở cho ông Ngô Xuân H của UBND huyện C đang có hiệu lực pháp luật và là căn cứ để UBND huyện C cấp GCNQSD đất cho vợ chồng ông H, bà T1 nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ về tính chất, căn cứ pháp lý của Quyết định này; cũng như quyền được thừa kế đối với đất ở theo quy định của pháp luật mà đã xác định di sản thừa kế của cụ H4, cụ L là quyền sử dụng 288,5m² đất các bên đang tranh chấp là chưa đủ cơ sở vững chắc.

Mặt khác, xét thấy cụ H4 chết năm 1983, cụ L chết năm 1992; ngày 14/9/2018 ông T có đơn gửi UBND thị trấn C đề nghị chia thừa kế di sản của hai cụ để lại. Theo quy định của pháp luật việc giải quyết tranh chấp thừa kế không phải hòa giải tại cơ sở và cũng không thuộc thẩm quyền của UBND các cấp. Tuy nhiên, UBND thị trấn C và UBND huyện C vẫn thụ lý, giải quyết. Đến ngày 16/10/2020, UBND huyện C mới có Thông báo số 804/TB-UBND trả lời ông T, trong đó có nội dung xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp thừa kế thuộc Tòa án và đề nghị ông T làm đơn đến Tòa án để giải quyết. Tính đến ngày 16/10/2020 thời hiệu khởi kiện chia di sản của cụ H4 đã hết. Trong trường hợp này, thời gian từ khi UBND thị trấn C thụ lý đơn của ông T đến ngày 16/10/2020 là ngày UBND huyện C thông báo cho ông T về thẩm quyền giải quyết là trở ngại khách quan (do UBND thị trấn C và UBND huyện C thụ lý, giải quyết không đúng thẩm quyền) dẫn đến ông T không thực hiện được quyền khởi kiện trong thời hiệu chia di sản của cụ H4 vẫn còn. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào việc gửi đơn khởi kiện của ông T để xác định đã hết thời hiệu chia di sản của cụ H4 là không đúng.

Như vậy việc thu thập chứng cứ và chứng minh tại cấp sơ thẩm chưa được thực hiện đầy đủ và làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được.

Do bản án sơ thẩm có những vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng, việc xác định thiệt hại và thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm chưa được thực hiện đúng, chưa đầy đủ làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được nên cần hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm đúng với các quy định của pháp luật.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị hủy Bản án sơ thẩm và giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết lại theo quy định của pháp luật là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn đều liên quan đến nội dung vụ án, do hủy bản án sơ thẩm nên Hội đồng xét xử không giải quyết tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay.

[6]. Về án phí: Do bản án sơ thẩm bị hủy nên các đương sự có kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.

Án phí dân sự sơ thẩm sẽ được xác định khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ khoản 3 Điều 308 và Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 30/2022/DS-ST ngày 28/7/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
  2. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

  3. Về án phí: Ông Tô T; ông Ngô Xuân H và bà Tô Thị T1 không phải chịu án phí phúc thẩm.
  4. Án phí dân sự sơ thẩm sẽ được xác định khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Nơi nhận:

  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - Cục THADS thành phố Hải Phòng;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ);
  • - Lưu HS, phòng HCTP.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Điều Văn Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 189/2024/DS-PT ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp về thừa kế tài sản và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 189/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: kc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger