Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số: 189/2024/HS-ST

Ngày 19/7/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Mừng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thuý Mai – Nguyên Giáo viên Trường THCS Nha Trang, thành phố Thái Nguyên

2. Bà Trần Kim Liên – Nguyên Giám đốc Nhà thiếu nhi thành phố Thái Nguyên.

Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Mạnh Hùng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Diệu N - Kiểm sát viên

Trong ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 155/2024/TLHS-ST, ngày 03/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 178/2024/QĐXXST-HS, ngày 05/7/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Viết P; sinh ngày 09 tháng 5 năm 2006 tại Thái Nguyên. Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: Xóm T, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Tày. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Không. Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, Chính quyền, Đoàn thể): Không. Con ông: Nguyễn Văn H, sinh năm 1977. Con bà: Nguyễn Thị H1 (đã chết). Vợ, con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt tại phiên toà)

Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1977 (có mặt)

Địa chỉ: Xóm T, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Thúy H2 – Trợ giúp viên Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T (có mặt)

Bị hại: Lê Xuân S (đã chết)

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Lê Anh T, sinh năm 1974 (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ C, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Nông Đức T1, sinh năm 2006 (có mặt)

Địa chỉ: Xóm T, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

Người đại diện hợp pháp của T1: Bà Nguyễn Thị S1, sinh năm 1959 (có mặt)

Địa chỉ: Xóm T, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi tại phiên tòa thì nội dung vụ án như sau: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 09/7/2023, Nguyễn Viết P (không có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 20F1-132.63 chở theo Nông Đức T1 (sinh ngày 08/10/2006, HKTT: xóm T, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên) đi trên đường Q hướng từ thành phố S, tỉnh Thái Nguyên đi thành phố T. Khi đến đoạn Km56+100 thuộc tổ A, phường T, thành phố T, P quan sát thấy phía trước cách khoảng 30 đến 40 mét có xe đạp do ông Lê Xuân S (sinh năm: 1947, HKTT: thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang) điều khiển đang đi phía trước cùng chiều. Lúc này P đang điều khiển xe mô tô di chuyển với tốc độ khoảng 60-70km/giờ, P không giảm tốc độ mà tiếp tục điều khiển xe đi thẳng để vượt lên phía bên trái ông S. Khi P điều khiển xe đến vị trí cách ông S khoảng 10 mét thì P có bấm còi để vượt, P không thấy ông S có hành vi gì nhường đường nhưng P không giảm tốc độ mà vẫn tiếp tục đi thẳng. Khi P điều khiển xe đến cách ông S khoảng 03 mét thì thấy ông S giơ tay trái ra có dấu hiệu xin đường rồi điều khiển xe đạp đi chếch sang trái. Do không làm chủ được tốc độ và đi gần xe ông S nên xe mô tô do P điều khiển đã đâm va vào ghi đông bên trái xe đạp do ông S điều khiển làm ông S, P và T1 ngã xuống đường. Ngay sau đó, P cùng mọi người đưa ông S đến Bệnh viện G cấp cứu.

Hậu quả: Ngày 10/7/2023, ông S tử vong tại bệnh viện. P và T1 bị xây xát da bên ngoài. Hai phương tiện bị hư hỏng nhẹ.

*Tại biên bản khám nghiệm hiện trường lập hồi 21 giờ 00 phút ngày 09/7/2023 xác định:

Hiện trường đã bị xáo trộn một phần do các phương tiện giao thông khác qua lại. Nạn nhân đã được đưa đi bệnh viện cấp cứu, 02 phương tiện có liên quan dừng lại vị trí cuối cùng sau va chạm.

Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn là đoạn đường nằm trên Quốc lộ C, mặt đường thẳng trải nhựa, giữa hai chiều đường có dải phân cách cứng và hàng rào sắt. Vụ tai nạn xảy ra trên chiều đường hướng Hà Nội đi Thái Nguyên. Mặt đường nhựa rộng 8,6 mét, có vạch kẻ sơn màu trắng, vạch đơn, nét đứt. Hai bên đường có các hộ dân sinh sống, đoạn đường không có hệ thống biển báo đường bộ.

Xác định cọc H1/56 đường Quốc lộ 3 nằm trên dải phân cách cứng làm điểm mốc cố định; xác định mép đường bên phải theo chiều Hà Nội đi Thái Nguyên làm mép đường chuẩn.

Ký hiệu (1) trên sơ đồ là vị trí vết cày xước trên mặt đường đứt đoạn, có chiều hướng Hà Nội đi Thái Nguyên, có kích thước 17,3m x 0,01m. Đo vuông góc từ điểm đầu vết cày xước đến mép đường chuẩn là 6,2m, điểm cuối dừng lại ở đầu ngoài cùng bên trái chân chống giữa xe mô tô biển kiểm soát 20F1-132.63.

Ký hiệu (2) trên sơ đồ là vị trí xe đạp màu đen đang nằm đổ nghiêng bên phải dọc trên mặt đường, đầu xe quay hướng Hà Nội, đuôi xe quay hướng Thái Nguyên. Đo vuông góc từ tâm trục bánh trước và tâm trục bánh sau đến mép đường chuẩn lần lượt là 4,7m và 5,2m.

Ký hiệu số (3) trên sơ đồ là vị trí xe mô tô biển kiểm soát 20F1-132.63 đang nằm đổ nghiêng bên trái chéo trên mặt đường, đầu xe hướng vào mép đường chuẩn, đuôi xe hướng dải phân cách cứng. Đo vuông góc từ tâm trục bánh trước và tâm trục bánh sau đến mép đường chuẩn lần lượt là 6,6m và 7,9m.

Đo vuông góc từ cọc chuẩn đến tâm trục bánh trước xe mô tô là 28,7m. Đo vuông góc từ tâm trục bánh sau xe mô tô đến tâm trục bánh sau xe đạp là 11,8m. Đo vuông góc từ tâm trục bánh trước xe đạp đến điểm đầu vết cày xước là 4,4m.

Tại Kết luận giám định pháp y về tử thi số 995/KLGĐTT-KTHS ngày 08/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Ông Lê Xuân S bị chấn thương sọ não, vỡ xương hộp sọ, tụ máu trong hộp sọ gây tổn thương thần kinh trung ương không phục hồi dẫn đến chết.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 37/KLTTCT-TTPY ngày 18/01/2024 của Trung tâm P kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nông Đức T1 tại thời điểm giám định là 6%.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 177/KL-HĐĐGTS ngày 27/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 xe mô tô biển kiểm soát 20F1-132.63 đã qua sử dụng bị hư hỏng, giá trị thiệt hại là 800.000đ; 01 xe đạp thô sơ, đã qua sử dụng bị hư hỏng, giá trị thiệt hại là 300.000 đồng.

Căn cứ biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, khám nghiệm tử thi, đủ căn cứ để xác định nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn là do Nguyễn Viết P không có giấy phép lái xe theo quy định, có hành vi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 20F1-132.63, chở anh Nông Đức T1 tham gia giao thông, đã không giữ khoảng cách an toàn, vượt xe không đảm bảo an toàn dẫn đến đâm va với xe đạp do ông Lê Xuân S điều khiển đi phía trước cùng chiều gây tai nạn khiến đến ông S tử vong, anh T1 bị tổn thương 6% sức khoẻ, xe mô tô biển kiểm soát 20F1-132.63 và xe đạp bị hư hỏng, tổng thiệt hại là 1.100.000đ.

Vật chứng của vụ án, gồm:

  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA-WAVE, màu sơn: Trắng - Đen, biển kiểm soát 20F1-132.63, số máy C12E-3328972, số khung Y528994, đã qua sử dụng. Hiện đã trả cho anh Nguyễn Văn H (sinh năm 1977, HKTT: Xóm T, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên) là chủ sở hữu quản lý, sử dụng.
  • - 01 xe đạp thô sơ đã qua sử dụng. Hiện đã trả lại cho anh Lê Anh T, sinh năm 1974, HKTT: Tổ C, phường T, thành phố T (là người đại diện gia đình ông S) quản lý, sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Viết P và gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình ông Lê Xuân S số tiền 100.000.000 đồng. Gia đình ông S không có yêu cầu đề nghị gì khác. Anh Nông Đức T1 không có yêu cầu đề nghị gì.

Tại Cáo trạng số 163/CT-VKSTPTN, ngày 31/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Nguyễn Viết P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Kết thúc phần tranh tụng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã luận tội đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

  • - Hình phạt chính: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65, Điều 90, Điều 91 và Điều 101 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết P từ 27 đến 30 tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định.
  • - Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • - Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

Trong phần tranh luận, người bào chữa cho bị cáo có ý kiến: Nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên về tội danh, hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức hình phạt thấp nhất cho bị cáo, để bị cáo được cải tạo tại địa phương nơi cư trú.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử cho bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

[2]. Về căn cứ buộc tội: Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Viết P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, kết luận giám định pháp y, kết luận định giá tài sản, lời khai của người đại diện hợp pháp của bị cáo, bị hại.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 09/7/2023, tại đường Q hướng từ thành phố S đi thành phố T, đoạn Km56+100 thuộc tổ A, phường T, thành phố T, Nguyễn Viết P không có giấy phép lái xe theo quy định đã có hành vi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 20F1-132.63, chở anh Nông Đức T1 tham gia giao thông, không giữ khoảng cách an toàn, vượt xe không đảm bảo an toàn dẫn đến đâm va với xe đạp do ông Lê Xuân S điều khiển đi phía trước cùng chiều gây tai nạn khiến đến ông S tử vong tại Bệnh viện ngày 10/7/2023, anh T1 bị tổn thương 6% sức khoẻ, xe mô tô biển kiểm soát 20F1-132.63 và xe đạp bị hư hỏng, tổng thiệt hại là 1.100.000đ. Về phần dân sự đã giải quyết xong.

Hành vi của Nguyễn Viết P đã vi phạm khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 14 và khoản 1 Điều 58 Luật Giao thông đường bộ; Vi phạm khoản 1 Điều 11 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G1 quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ. Luật Giao thông đường bộ quy định như sau:

Điều 12. Tốc độ xe và khoảng cách giữa các xe

“1. Người lái xe ... phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình;”

Điều 14. Vượt xe

“2. Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải.”

Điều 58. Điều kiện của người lái xe tham gia giao thông

“1. Người lái xe tham gia giao thông phải đủ độ tuổi, sức khoẻ quy định tại Điều 60 của Luật này và có giấy phép lái xe phù hợp với loại xe được phép điều khiển do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp.”

Điều 11 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 quy định về khoảng cách an toàn giữa hai xe khi tham gia giao thông trên đường

“1. Khi điều khiển xe tham gia giao thông trên đường bộ, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình; ở nơi có biển báo "Cự ly tối thiểu giữa hai xe" phải giữ khoảng cách không nhỏ hơn trị số ghi trên biển báo.”

Hành vi nêu trên của Nguyễn Viết P đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Nội dung điều luật được quy định như sau:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định.”

[3]. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm an toàn, sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, trật tự công cộng mà còn gây nguy hiểm cho tính mạng, tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ vì vậy cần phải xử lý bằng pháp luật hình sự.

[4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

  • - Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là “Người phạm tội tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả” và “Thành khẩn khai báo ăn năn hối cải” quy định điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo có ông nội là Nguyễn Thanh T2 là thương binh, thương tật hạng 3 nên bị cáo còn được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • - Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • - Xét nhân thân bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự. Bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi tính đến ngày phạm tội, nhưng có đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, hiểu biết pháp luật. Mặc dù bị cáo chưa đủ tuổi lái xe mô tô, đồng nghĩa với việc chưa đủ điều kiện để được cấp giấy phép lái xe theo quy định nhưng do chủ quan, cầu thả, coi thường quy định của pháp luật, đã tự ý điều khiển xe mô tô trên 50cc, chạy không đảm khoảng cách an toàn và vượt xe khác khi tham gia giao thông, vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, gây ra hậu quả nghiêm trọng.

[5]. Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.

Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, bị cáo có nơi cư trú ổn định rõ ràng. Bị cáo phạm tội lần này là lần đầu, tại địa phương bị cáo không có vi phạm pháp luật. Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi của mình, mong muốn được sự khoan hồng của pháp luật. Tính đến ngày phạm tội (ngày 09/5/2023) thì bị cáo mới được 17 tuổi 2 tháng, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội, do đó việc xử lý nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ sửa chữa sai lầm, giúp bị cáo trở thành công dân có ích xã hội. Hội đồng xét xử xét thấy cần mở lượng khoan hồng của pháp luật, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương nơi cư trú, dưới sự giám sát của chính quyền địa phương vẫn đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung. Đối chiếu theo quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP, ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án từ 27 đến 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 54 đến 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp.

[6]. Ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Viết P, buộc bị cáo không được rời khỏi nơi cư trú kể từ ngày 19/7/2024 cho đến khi bị cáo đi chấp hành án. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú của bị cáo để quản lý, theo dõi.

[7]. Về phần dân sự: Bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, đại diện gia đình bị hại không có yêu cầu gì về phần dân sự. Anh T1 cũng không có yêu cầu gì về phần dân sự, do đó về phần dân sự trong vụ án này HĐXX không xem xét.

[8]. Về vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã giải quyết theo quy định của pháp luật và hợp pháp nên HĐXX không xem xét.

[9]. Đối với anh Nguyễn Văn H, quá trình điều tra xác định là chủ sở hữu hợp pháp của xe mô tô biển kiểm soát 20F1-132.63. Xét thấy anh H không biết việc P tự ý lấy và điều khiển chiếc xe trên tham gia giao thông nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không xử lý là có căn cứ. Xét thấy việc giải quyết của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T là phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX không xem xét.

[10]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định nộp ngân sách Nhà nước.

[11]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự;

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015. Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP, ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết P 27 (hai mươi bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 54 (năm mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 19/7/2024.

    Giao bị cáo Nguyễn Viết P cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, theo quy định tại Điều 93 Luật Thi hành án hình sự.

  3. Ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Viết P, buộc bị cáo không được rời khỏi nơi cư trú kể từ ngày 19/7/2024 cho đến khi bị cáo đi chấp hành án. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú của bị cáo để quản lý, theo dõi.
  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Nguyễn Viết P phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Công an thành phố Thái Nguyên;
  • - VKSND thành phố Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Thái Nguyên;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Bị cáo; Người tham gia tố tụng
  • - Lưu hồ sơ.

9

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Xuân Mừng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 189/2024/HS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 189/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm giao thông
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger