TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 189/2023/HS-ST
Ngày: 17/11/2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Mai
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Hoàng Oanh
- Bà Nguyễn Thị Mai Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ An Trinh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Duyên – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 192/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 984/2023/QĐXX-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:
Đặng Hoàng T, sinh năm 2003; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: C L, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Đặng Văn M và bà Bùi Thị Bích T1; Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ từ ngày 07/7/2023, tạm giam từ ngày 16/7/2023 (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tối ngày 06/7/2023, Đặng Hoàng T cùng với nhóm bạn gồm H, T2, T3, T4 (không rõ họ tên, địa chỉ) cùng uống cà phê tại đường H, phường T, quận N, tại đây cả nhóm rủ nhau hùn tiền mua ma túy đến quán K thuộc khu V, phường C, quận N để cùng sử dụng. Hào sử dụng điện thoại liên hệ với đối tượng tên H1 ở phường L, quận C đặt mua 02 gói khây và 09 viên thuốc lắc, với số tiền 8.300.000 đồng. Tín hùn 6.300.000 đồng, còn lại mỗi người hùn 500.000 đồng. Sau khi đặt mua ma túy, H chỉ đường cho T trực tiếp điều khiển xe mô tô biển số 66S1- 544.77 đến gặp đối tượng tên H1 ở khu vực phường L, quận C mua ma túy mang đến quán K cùng nhau sử dụng. Đến khoảng 00 giờ 30 ngày 07/7/2023, mua được ma túy T cầm trên tay phải và điều khiển xe mô tô đến Karaoke King để sử dụng với nhóm bạn như đã hẹn. Khi đến trước quán K, T nhìn thấy lực lượng Công an đi về hướng mình nên đã ném gói ma túy đang cầm trên tay xuống đường nhưng vẫn bị lực lượng Công an phát hiện và bị lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng tang vật sau:
- - 01 gói nilon nẹp miệng bên trong có 09 viên nén màu hồng và 02 gói nilon màu đen nẹp miệng chứa tinh thể không màu,
- - 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Vario màu đen, biển số 66S1- 544.77; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12.
Tại Kết luận giám định số 232/KL - KTHS ngày 14/7/2023 của Phòng K1 - Công an thành phố C kết luận:
- - 09 viên nền màu hồng (ký hiệu MI) gửi giám định, là ma túy, loại Methamphetamine, MDMA, khối lượng 2,8537 gam.
- - 02 gói nilon màu đen hợp miệng chứa tinh thể không màu (ký hiệu M2) gửi giám định, là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 3,2371 gam.
Đối với đối tượng tên H1 - bán trái phép ma túy cho bị cáo Đặng Hoàng T và các đối tượng hùn tiền mua ma túy cùng bị cáo tên H, T2, T3 và T4, do bị cáo khai không biết rõ họ, tên thật và địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận N tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
Đối với xe mô tô hiệu Honda Vario, biển số 66S1- 554.77, qua xác minh do anh Trần Quốc T5 là chủ sở hữu. Tuy nhiên, anh T5 đã bán xe lại cho người khác nhưng chưa làm thu tục sang tên. Bị cáo khai đã mua lại xe này từ một người không rõ họ tên, địa chỉ ở Đồng Tháp. Cơ quan điều tra đã ra thông báo tìm chủ sở hữu xe trên.
Bản Cáo trạng số 213/CT-VKSNK ngày 30/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều truy tố bị cáo Đặng Hoàng T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa,
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự để kết tội bị cáo, xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Đồng thời đề nghị xử lý vật chứng như sau: tịch thu tiêu hủy gói niêm phong số 232/KL-KTHS ngày 14/7/2023 của Phòng K1 - Công an thành phố C; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12; giao lại cho Cơ quan điều tra – Công an quận N 01 xe mô tô Honda để tiếp tục tìm kiếm theo thông báo và xử lý theo quy định.
Bị cáo thừa nhận hành vi đã thực hiện và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm đoàn tụ gia đình, trở thành công dân tốt trong lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[2] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận vào tối ngày 06/7/2023, bị cáo cùng bạn tên H, T4, T2, T3 hùn tiền để mua ma túy về sử dụng chung, bị cáo là người trực tiếp đi lấy ma túy và trả tiền, khi đến trước quán K thuộc khu V, phường C, quận N, TP. thì bị lực lượng chức năng kiểm tra, phát hiện và bắt giữ. Tại bản kết luận giám định số 232/KL - KTHS ngày 14/7/2023 của Phòng K1 - Công an thành phố C kết luận: 09 viên nền màu hồng (ký hiệu M1) gửi giám định, là ma túy, loại Methamphetamine, MDMA, khối lượng 2,8537 gam; 02 gói nilon màu đen hợp miệng chứa tinh thể không màu (ký hiệu M2) gửi giám định, là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 3,2371 gam.Theo quy định tại Khoản 2 Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ thì tổng tỉ lệ phần trăm về khối lượng của 2 loại ma túy trên là 73,2595%.
Bị cáo thừa nhận số ma túy bị cáo cất giữ với mục đích để sử dụng. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa chưa chứng minh được bị cáo mua ma túy về để bán lại, vận chuyển hoặc để sản xuất. Lời khai này phù hợp với kết luận giám định, biên bản khám xét và các chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Ma túy là chất gây nghiện, có tác hại rất lớn đối với đời sống xã hội, làm suy giảm sức lao động, sản xuất trong xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người sử dụng. Đây là mầm mống làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Nhà nước nghiêm cấm mọi việc tàng trữ, vận chuyển và mua bán,... các chất ma túy, bị cáo biết rõ tác hại của ma túy cũng như biết rõ hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật nhưng bất chấp thực hiện. Với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo nên phải có hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện học tập, tu dưỡng, trở thành người có ích, đồng thời để phòng ngừa chung trong xã hội.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi thực hiện, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Với những phân tích trên thì mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp.
Xét thấy, bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
[3] Kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ đối tượng tên H1 bán ma túy cho bị cáo và những đối tượng hùn tiền mua ma túy với bị cáo tên T4, H2, T2, T3 để xử lý theo quy định của pháp luật.
[4] Về xử lý vật chứng:
- - Gói niêm phong số 232/KL-KTHS ngày 14/7/2023 của Phòng K1, Công an thành phố C – mẫu vật còn lại sau giám định là ma túy, vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- - 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đỏ-đen, đã qua sử dụng; 01 Điện thoại di động Iphone 12 Promax màu vàng đồng, bể mặt lưng và camera, đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng bên trong: là của bị cáo, chưa chứng minh được có liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo;
- - 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda Vario màu đen, biển số 66S1- 544.77: qua xác minh người đứng tên đăng ký chủ sở hữu là ông Trần Quốc T5, ông T5 trình bày đã bán xe này lại cho người khác nhưng không nhớ họ tên; bị cáo cũng trình bày mua lại của người khác nhưng không nhớ họ tên, không có hợp đồng mua bán. Cơ quan điều tra đã ra thông báo tìm chủ sở hữu xe trên phương tiện thông tin đại chúng theo văn bản số 2192/TB-MT ngày 14/9/2023 nhưng chưa đủ thời gian theo quy định. Do đó, giao lại chiếc xe này cho Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận N để giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều 228 Bộ luật dân sự.
[5] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Tuyên bố: Bị cáo Đặng Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng: Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Đặng Hoàng T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù.
- Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 07/7/2023).
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 228 Bộ luật dân sự.
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 Gói niêm phong số 232/KL-KTHS ngày 14/7/2023 của Phòng K1, Công an thành phố C.
- + Trả lại cho bị cáo Đặng Hoàng T: 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đỏ - đen, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu vàng đồng, bể mặt lưng và camera, đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng bên trong.
- + Giao lại cho Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận N: 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda Vario màu đen, biển số 66S1-544.77, số máy: KF41E1191726, số khung: MHIKF4111JK190963, dung tích: 149, đã qua sử dụng.
- - Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Bị cáo Đặng Hoàng T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Mai |
Bản án số 189/2023/HS-ST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 189/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Hoàng T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
