Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 189/2024/HS-ST

Ngày: 15/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Hoàng An.
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Ông Lục Kim Thanh.
    • Ông Lê Thành Tâm.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
  • Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 195/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Thanh T, sinh năm 1975 tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: Số 151/7, phường B, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện tại: Số 622, phường 1, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đình P (đã chết) và bà Đoàn Thị Thanh N (đã chết); chồng là ông Nguyễn Danh T, sinh năm 1960; có 01 con sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 06/3/2008, bị Toà án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng tính từ ngày 06/3/2008 đối với hành vi trộm cắp tài sản thực hiện ngày 18/9/2007 theo Bản án 61/2008/HSST. Chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 09/3/2009.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/4/2024 đến ngày 27/4/2024 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt tại phiên tòa

2

Bị hại: Bà Đặng Thị Thúy A, sinh năm 1995.

Hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.

Nơi ở: Khu phố 3B, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương – có yêu cầu xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Lê Danh Nhật T, sinh năm 1996.

Hộ khẩu thường trú: Số 151/7, phường B, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh – có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 21/6/2022, T điều khiển xe mô tô hiệu Honda Lead biển số 59T1 - 717.65 đi đến tiệm Spa A, cạnh đường DL14 thuộc khu phố 3B, phường Thới Hòa, thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương do bà Đặng Thị Thúy A làm chủ để gội đầu. Khi vào tiệm, T nói có nhu cầu mua mỹ phẩm nên yêu cầu bà A lấy cho T xem. Lúc này, bà A đang cầm chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 trên tay thì đặt lên gối trên đầu giường nằm gội đầu cho khách, rồi đi vào phía trong lấy mỹ phẩm cho T xem. T nhìn thấy điện thoại di động của bà A thì nảy sinh ý định lấy trộm nên khi đi theo bà A vào phía trong xem mỹ phẩm, ngang qua chỗ để điện thoại, T đã lật chiếc gối cho điện thoại nằm phía dưới, đậy lại. Trong lúc bà A đi lấy túi đựng mỹ phẩm thì T lén lút đi lại lấy trộm điện thoại của bà A giấu vào trong túi phía trước của váy chống nắng T đang mặc, rồi nói bận và đi về. Trên đường đi về, T tháo sim gắn trong điện thoại, vứt bỏ. Sau đó, T gắn sim điện thoại của mình vào điện thoại của chị A để sử dụng. Khoảng 15 ngày sau, khi T đi trên đường Điện Biên Phủ thuộc Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị cướp giật mất điện thoại của bà A.

Khoảng 20 giờ ngày 17/4/2024, T đi đến tiệm Spa A, cạnh đường NJ12 thuộc khu phố 3B, phường Thới Hòa, thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương của chị A để làm móng tay thì bị bà A phát hiện, trình báo. Công an phường Thới Hoà đến mời T làm việc. Quá trình điều tra, T đã khai nhận toàn bộ hành vi lấy trộm chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 của bà A vào ngày 21/6/2022.

Ngoài ra T còn khai nhận: Khoảng 18 giờ 30 giờ, ngày 21/6/2022, T đi từ nhà ở Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đến Bệnh viện Mỹ Phước thuộc thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương để thăm người thân. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển số 59T1 - 717.65 đến tiệm quần áo V, cạnh đường NJ12 thuộc khu phố 3B, thành phố Bến Cát do bà Lê Thị P làm chủ để mua quần áo. Tại đây, T yêu cầu bà P chụp hình các bộ quần áo bày bán để T gửi cho người thân xem chọn mua, bà P đồng ý nên sử dụng chiếc điện thoại di động hiệu Oppo F11 Pro màu tím của mình chụp hình cho T. Khi bà P đang chụp hình thì thấy con của mình (sinh năm 2018) đi từ trên cầu thang xuống, sợ con bị té ngã nên bà P đưa chiếc điện thoại di động hiệu Oppo F11 Pro cho T

3

cầm dùm rồi chạy lại chỗ cầu thang để bế con, còn T tiếp tục xem hàng. Lúc này, T nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại di động của bà P nên nói dối với bà P là T đi lấy hộp đựng quần áo, rồi T cầm chiếc điện thoại của bà P đi. Bà P quên việc đưa điện thoại di động của mình cho T cầm trước đó nên không nói gì. Khi ra khỏi cửa hàng quần áo V, T kiểm tra điện thoại đi động hiệu Oppo F11 Pro của bà P thì thấy có cài đặt mật khẩu nên đã vứt bỏ điện thoại trên đường đi.

Theo Kết luận định giá tài sản số 48/KL-HĐĐGTS ngày 25/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã (nay là thành phố) Bến Cát, kết luận:

  • Một điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu tím dung lượng 128GB trị giá 7.950.000 đồng.
  • Một điện thoại di động hiệu Oppo F11 Pro màu tím trị giá 2.020.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 198/CT-VKSBC ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Lê Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Lê Thanh T từ 07 tháng đến 09 tháng tù.

* Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô hiệu Honda Lead màu trắng biển số 59T1 - 717.65 do bà Nguyễn Lê Danh Nhật T (con ruột của Lê Thanh Thuỷ) đứng tên chủ sở hữu. Bà Thanh không biết việc T sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Ngày 29/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Cát giao trả xe mô tô biển số 59T1 - 717.65 cho bà T.

* Về trách nhiệm dân sự: Lê Thanh T đã bồi thường cho bà Lê Thị P số tiền 8.940.000 đồng, bồi thường cho bà Đặng Thị Thuý A số tiền 12.000.000 đồng. Bà P và bà A không yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho T.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố, bản luận tội của Viện Kiểm sát và Kết luận định giá tài sản số 48/KL-HĐĐGTS ngày 25/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã (nay là thành phố) Bến Cát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

4

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Bến Cát, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản Cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập tại hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 21/6/2022, T có hành vi lén lút lấy trộm một điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu tím của bà Đặng Thị Thúy A tại tiệm Spa A, cạnh đường DL14 thuộc khu phố 3B, phường Thới Hòa, thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Theo Kết luận định giá tài sản số 48/KL-HĐĐGTS ngày 25/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã (nay là thành phố) Bến Cát, kết luận: Một điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu tím dung lượng 128GB trị giá 7.950.000 đồng.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo còn có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án xử phạt về hành vi trộm cắp tài sản, nay bị cáo tiếp tục có hành vi phạm tội. Như vậy, Cáo trạng số 198/CT-VKSBC ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Lê Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Về nhận thức, bị cáo hoàn toàn biết hành vi chiếm đoạt tài sản là trái pháp luật nhưng vì lòng tham lam tư lợi nên bị cáo đã cố tình thực hiện. Do đó, cần phải có hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình

5

phạt nên chấp nhận đề nghị của Viện Kiểm sát sẽ áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[5] Đối với hành vi chiếm đoạt một điện thoại di động hiệu Oppo F11 Pro của bà P: Bị cáo sau khi được bà Phức tin tưởng giao cho điện thoại di động hiệu Oppo F11 Pro thì đã nảy sinh ý định chiếm đoạt. Do đó, hành vi của bị cáo là hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Theo Kết luận định giá tài sản số 48/KL-HĐĐGTS ngày 25/4/2024 thì điện thoại trên trị giá 2.020.000 đồng, do tài sản chiếm đoạt chưa đủ định lượng cấu thành tội phạm, đồng thời, bị cáo cũng đã bồi thường thiệt hại cho bà P nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là có căn cứ.

[6] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đã thực hiện xong nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[7] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

    Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Lê Thanh T 07 (bảy) tháng tù.

    Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo vào để thi hành án, được khấu trừ vào thời gian tạm giữ từ ngày 18/4/2024 đến ngày 27/4/2024.

  2. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Thanh T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết công khai./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - Chi cục THA thành phố Bến Cát;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Công an thành phố Bến Cát;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Nhà tạm giữ CA thành phố Bến Cát;
  • - Lưu: Hồ sơ, TA (01).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Ngọc Hoàng An

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 189/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 189/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thanh T - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger