|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 189/2023/HNGĐ-ST Ngày: 14 – 8 – 2023 V/v “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hân
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trương Công Minh
- Bà Trương Ánh Hoa
- Thư ký phiên toà: Bà Tô Huyền Trang, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Ngày 14 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 346/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2023 về việc "Xin ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 195/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự.
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Ngọc M, sinh năm: 1993. (có mặt)
Đăng ký thường trú: Phường LT, quận BT, thành phố Cần Thơ.
Nơi cư trú: Khu CK, phường CK, quận NK, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Anh Phạm Quốc Kh, sinh năm: 1987. (vắng mặt)
Đăng ký thường trú: Ấp TPB, xã HT, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Nơi cư trú: Ấp TPB, xã HT, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Chị Phạm Thị Ngọc M trình bày và xác định yêu cầu như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Quốc Kh chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã HT, thành phố C, tỉnh Cà Mau vào ngày 13/02/2017. Thời chung sống, chị và anh Kh phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải vã, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Mâu thuẫn trầm trọng không hoà giải được. Chị và anh Kh đã ly thân và không còn sống chung nhà từ khoảng tháng 01/2023 cho đến nay. Tình cảm không còn. Nay chị xin ly hôn anh Kháng.
- Về con chung: Chị và anh Phạm Quốc Kh có 01 người con chung tên Phạm Quốc Th, sinh ngày 16/3/2019, đang sống chung với chị. Khi ly hôn, chị M yêu cầu nuôi con, không yêu cầu anh Kháng cấp dưỡng.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
Đối với anh Phạm Quốc Kh: Toà án đã thông báo cho anh Phạm Quốc Kh về việc thụ lý vụ án; thông báo cho anh Kh đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vụ án; triệu tập anh Kh đến Tòa án để tham gia phiên tòa xét xử vụ án nhiều lần nhưng anh Kh vẫn không có mặt tại Tòa án theo thông báo, triêu tập của Tòa án. Anh Kh cũng không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của anh đối với yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Ngọc M.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về tố tụng dân sự: Quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị Ngọc M và anh Phạm Quốc Kh có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Nay chị M xin ly hôn. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân. Anh Kh cư trú tại thành phố C nên Tòa án nhân dân thành phố C thụ lý giải quyết. Vụ án không hòa giải được, Tòa án đưa vụ án ra xét xử. Anh Kh đã được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia phiên tòa xét xử vụ án đến lần thứ hai mà anh Kh vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Kh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 207, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy chị Phạm Thị Ngọc M và anh Phạm Quốc Kh chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên hôn nhân của chị M và anh Kh được pháp luật công nhận. Chị M xác định thời gian chị và anh Kh chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không hòa giải, hàn gắn được; chị M và anh Kh đã ly thân; mục đích hôn nhân không đạt được nên chị My xin ly hôn. Đối với anh Phạm Quốc Kh: Anh Kh đã được thông báo đến Tòa án để tham gia hòa giải, được triệu tập đến Tòa án tham gia phiên tòa xét xử vụ án nhiều lần nhưng anh Kh vẫn vắng mặt không rõ lý do; anh Kh cũng không gửi cho Tòa án văn bản nêu ý kiến của anh đối với yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Ngọc M. Điều đó thể hiện anh Kh không có ý thức hoà giải, hàn gắn quan hệ vợ chồng với chị M. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn của chị M và anh Kh xảy ra nhưng không ai có giải pháp hiệu quả để giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn mối quan hệ vợ chồng. Chị M trình bày chị và anh Kh đã ly thân; chị M cương quyết ly hôn và xác định dù Toà án không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị, chị cũng không tiếp tục chung sống vợ chồng với anh Kh. Do đó, dù có duy trì hôn nhân của chị M và anh Kh về mặt pháp lý thì mục đích hôn nhân của chị M và anh Kh cũng không đạt được, mâu thuẫn trầm trọng không hoà giải được nên Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị M về việc xin ly hôn anh Kh.
[3] Về con chung: Chị M xác định chị và anh Kh có 01 người con chung tên Phạm Quốc Th, sinh ngày 16/3/2019, đang sống chung với chị M. Chị M yêu cầu nuôi con, không yêu cầu anh Kháng cấp dưỡng. Quá trình giải quyết vụ án, anh Kh không có ý kiến, yêu cầu gì về con chung của anh và chị M. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị M, giao cháu Th cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng. Chị M không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Anh Kh không trực tiếp nuôi con, có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định pháp luật.
[4] Về tài sản chung: Chị M xác định chị và anh Kh không có tài sản chung. Anh Kh không có ý kiến về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về nợ chung: Chị M xác định chị và anh Kh không có nợ chung. Không ai yêu cầu về nợ chung nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[6] Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình: Chị M là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Căn cứ các Điều 147, 227 228, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị Ngọc M về việc xin ly hôn anh Phạm Quốc Kh.
- Về con chung: Giao con chung của chị M và anh Kh tên Phạm Quốc Th, sinh ngày 16/3/2019 cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con. Anh Kh không trực tiếp nuôi con, có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Về nợ chung: Không ai yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
- Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình chị Phạm Thị Ngọc M phải chịu 300.000 đồng. Ngày 05/6/2023, chị M đã nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố C (biên lai số 0003507) được đối trừ, chuyển thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị Ngọc M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Phạm Quốc Kh vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Ngọc Hân |
Bản án số 189/2023/HNGĐ-ST ngày 14/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU về xin ly hôn
- Số bản án: 189/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: M xin ly hôn Kh
