Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 189/2024/HS-ST

Ngày 12-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Phong Lan

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Thuỷ - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Ông Trần Hùng Vũ - Kiểm sát viên.

Tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 188/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 768/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Hoàng Thị Thu H, sinh năm 1998 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn B, xã C, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Mạnh H1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; có chồng là Phạm Đăng K và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 22/4/2024; có mặt.

- Bị hại: Công ty TNHH A1; địa chỉ trụ sở: Số C đường B, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Bảo L, sinh năm 1988; địa chỉ: Số B H, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng (Giấy uỷ quyền số AL/2021/087 ngày 30/8/2021); vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 18/02/2024, Hoàng Thị Thu H và chồng là Phạm Đăng K; sinh năm 1993 cùng các con là Phạm Khánh H2; sinh năm 2017 và Phạm Ngọc H3; sinh năm 2019 đều trú tại: thôn B, xã C, huyện V, Hải Phòng đến Trung tâm thương mại A2 tham quan, mua sắm. Đến nơi, K trông các con tại quầy ăn uống tầng 1 Trung tâm thương mại còn H vào gian hàng bán đồ ăn tầng 1 của khu siêu thị chọn 01 cánh gà chiên sốt xá xíu và 02 đùi gà chiên sốt xá xíu cho vào trong 01 túi ni lông. Lúc này, H thấy siêu thị đông người, nhân viên siêu thị quản lý lỏng lẻo nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. H không thanh toán số đồ ăn vừa chọn mà mang ra cùng K và các con ăn. Sau đó, K ở lại trông cháu H2, H đưa cháu H3 đi đến quầy bán đồ ăn sẵn tại tầng 1 Trung tâm thương mại. Tại đây, H lấy 02 que ghẹ farci hấp, 04 dồi sụn chiên, 03 nem lụi thịt heo xiên que, 02 xúc xích bia cho vào trong túi ni lông đựng đồ ăn của siêu thị, không thanh toán tiền mà mang đến để ở chỗ K ngồi đợi. Tiếp đó, H đi quanh tầng 1 khu siêu thị chọn mua và thanh toán tiền 01 túi rong biển, 01 túi bạt siêu thị A3 mục đích để đựng tài sản trộm cắp. H cầm theo túi bạt siêu thị A3 và túi ni lông Aeon đến khu vực bán hoa quả, đồ ăn, bánh kẹo tầng 1 siêu thị chọn lấy nhiều túi, hộp đồ ăn, sau đó đến khu vực tầng 2 siêu thị chọn lấy một số đồ gia dụng và quần áo trẻ em. Những sản phẩm vừa lấy, H cho vào túi bạt và túi ni lông A rồi đi đến khu vực K đang ngồi đợi. Tại đây, H cho túi ni lông chứa 02 que ghẹ farci hấp, 04 dồi sụn chiên, 03 nem lụi thịt heo xiên que, 02 xúc xích bia H lấy trước đó vào trong túi bạt Aeon, sau đó xách túi chứa các sản phẩm hàng hóa chưa thanh toán tiền cùng K và các con đi qua cửa số 9 ra bãi gửi xe để lấy xe máy ra về thì bị nhân viên an ninh của Trung tâm thương mại A2 kiểm tra phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Sau đó lực lượng an ninh của Trung tâm thương mại đã bàn giao H cùng toàn bộ vật chứng và 01 USB chứa hình ảnh có liên quan cho Công an quận L (bút lục 24-25).

Tại Kết luận định giá số 38/KL-HĐ ngày 15/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận L kết luận: “ Tổng giá trị các tài sản Hoàng Thị Thu H trộm cắp là 3.649.500 đồng”.

Đối với Phạm Đăng K (chồng của H) khai nhận phù hợp với nội dung trên. K trông con và không biết việc H lấy đồ mà không thanh toán.

Tại Quyết định truy tố số 07/QĐ-VKSLC ngày 26/8/2024 Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Hoàng Thị Thu H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã khai tại Cơ quan điều tra và Quyết định truy tố đã nêu.

Bị hại (Công ty TNHH A1) trình bày nội dung như nêu trên: Tài sản của Công ty bị H chiếm đoạt số tài sản như đã nêu trong Quyết định truy tố. H đã trả tiền 01 cánh gà chiên sốt xá xíu và 02 đùi gà chiên sốt xá xíu (đã ăn hết). Đối với các tài sản còn lại đã được thu hồi và trả lại cho Công ty TNHH A1, Công ty TNHH A1 không có yêu cầu gì khác.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Hoàng Thị Thu H và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Hoàng Thị Thu H mức án từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, Thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng tháng tính từ ngày tuyên án. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Công ty TNHH A1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường, đề nghị gì khác nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp
  2. Về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn: Hành vi phạm tội của bị cáo bị bắt quả tang; sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng; tội phạm bị cáo thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng và người phạm tội có nơi cư trú, lý lịch rõ rang. Do vậy vụ án có đủ điều kiện tiến hành theo thủ tục rút gọn theo quy định tại Điều 456 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  3. Bị hại đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng vắng mặt không có lý do. Xét thấy việc vắng mặt của bị hại không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị hại

- Về hành vi trộm cắp tài sản

  1. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai bị hại, vật chứng thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ thể hiện: Khoảng 17 giờ, ngày 18/02/2024, Hoàng Thị Thu H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt sản phẩm các loại trị giá 3.649.500 đồng (Ba triệu sáu trăm bốn mươi chín nghìn năm trăm đồng) của Siêu thị A3, Hải Phòng. Hành vi của bị cáo đã thỏa mãn cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
  2. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
  3. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  4. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các sản phẩm bị cáo chiếm đoạt có giá trị không lớn. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần áp dụng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần khi quyết định hình phạt.
  5. Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị không lớn và cũng đã được thu hồi trả lại cho bị hại. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về hình phạt bổ sung:

  1. Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự thì ngoài hình phạt chính bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Song theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự:

  1. Tài sản bị cáo chiếm đoạt hiện đã được thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại - Công ty TNHH A1 không còn yêu cầu bồi thường gì khác. Như vậy trách nhiệm bồi thường dân sự đã được giải quyết xong, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí:

  1. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo:

  1. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  2. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

- Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;

    Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thị Thu H phạm tội Trộm cắp tài sản.

    Xử phạt: Bị cáo Hoàng Thị Thu H 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Hoàng Thị Thu H cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện V, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo Hoàng Thị Thu H.

  2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

- Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - VKSND thành phố;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - Công an quận Lê Chân;
  • - Phòng PV06; PC10;
  • - THA hình sự;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - Sở tư pháp;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Phong Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 189/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 189/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thị Thu Hoài
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger