Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 189/2024/HS-ST

Ngày: 07-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng

Ông Võ Văn Lợi

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Thu – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Khải - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 173/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 180/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 dưới hình thức trực tuyến, gồm 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, đối với bị cáo:

Nguyễn Hoàng Anh T; Sinh năm 1996; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Số định danh: 079096000991; Nơi thường trú: Số D đường N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Số D đường N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hoàng Thanh T1, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị Thùy H, Sinh năm: 1978; Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giam từ ngày 10/10/2023 (Có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Bà Nguyễn Thị Thùy H, sinh năm: 1978; Địa chỉ: D N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 22 giờ 45 phút, ngày 10/10/2023, Tổ tuần tra 363, Công an thành phố T tuần tra đến trước nhà số B K, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Nguyễn Hoàng Anh T đang điều khiển xe mô tô, biển số 61G1-301.37 bên trong túi quần bên trái phía trước T đang mặc trên người có 01 hộp giấy hình chữ nhật, bên trên có chữ “Rơ lưỡi đông fa”, bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, T khai là ma tuý mua về để sử dụng. Tại Công an phường H, T khai nhận: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 10/10/2023, T điều khiển xe máy biển số 61G1-301.37 đến quán B, phường A, quận B để nhậu với bạn. Sau khi nhậu xong, T điều khiển xe mô tô đến gần cầu B, đường H, phường H, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh gặp người phụ nữ tên N. Khi đến nơi T gọi cho N theo số điện thoại 0938.284.xxx, đặt mua ma tuý với giá 200.000 đồng. N đồng ý và nói T vào hẻm S phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh đứng đợi. Khoảng 10 phút sau N đi bộ ra đưa T 01 hộp giấy hình chữ nhật, bên trên có chữ “Rơ lưỡi đông fa”, bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, và lấy tiền. Sau khi mua được ma tuý T điều khiển xe tìm nơi sử dụng. Khi đến trước số B đường K, phường H, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì gặp Tổ tuần tra 363 Công an T, Thành phố T kiểm tra phát hiện nên đã đưa T về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Kết luận giám định số 11373/KL-KTHS ngày 19 tháng 10 năm 2023 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Hoàng Anh T và hình dấu Công an phường H, thành phố T (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1346 gam, là Methamphetamine.

Vật chứng và đồ vật thu giữ:

  • - Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định có khối lượng 0,0966 gam được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra;
  • - 01 (một) hộp giấy hình chữ nhật, bên trên có chữ “Rơ lưỡi đông fa”
  • - 01 điện thoại di động hiệu Vivo có số thuê bao 0707761996;
  • - 01 (một) xe mô tô màu xanh hiệu Yamaha loại Luvias biển số 61G1-301.37, số khung 4S10CY068559, số máy 44S1068565 do chị Nguyễn Thị Thùy H là mẹ ruột của T đứng tên sở hữu. Chị H đưa xe cho T làm phương tiện chở nước đá, không biết T sử dụng xe đi mua ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại xe trên cho chị H.

Bản cáo trạng số 173/CT-VKSTPTĐ ngày 01/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố Nguyễn Hoàng Anh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Hoàng Anh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Hoàng Anh T mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung; Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng; Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên và không tự bào chữa; Bị cáo nói lời sau cùng biết lỗi của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hoàng Anh T khai nhận vào khoảng 22 giờ 45 phút, ngày 10/10/2023 tại trước nhà số B K, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Nguyễn Hoàng Anh T có hành vi tàng trữ trái phép 0,1346 gam, loại Methamphetamine với mục đích sử dụng. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình phạm tội với lỗi cố ý. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, vật chứng thu giữ, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, phù hợp với sự thật khách quan của vụ án đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[3] Như vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đối với bị cáo Nguyễn Hoàng Anh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lí các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, cần phải xử lý nghiêm minh bị cáo trước pháp luật. Do đó, cần có một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa tiền án tiền sự. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[7] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định.

[8] Về các biện pháp tư pháp: Không có.

[9] Về xử lý vật chứng: Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định có khối lượng 0,0966 gam được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra; 01 hộp giấy hình chữ nhật, bên trên có chữ “Rơ lưỡi đông fa” không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy. 01 điện thoại di động hiệu Vivo có số thuê bao 0707761996 là công cụ, phương tiện phạm tội cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước. Đối với 01 xe mô tô màu xanh hiệu Yamaha loại Luvias biển số 61G1-301.37 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T trả lại cho chị Nguyễn Thị Thùy H là có cơ sở nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Về các vấn đề khác: Đối với người phụ nữ tên N sử dụng số điện thoại 0938.284.xxx, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau là có cơ sở.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Anh T 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/10/2023.

  3. Áp dụng Điều 106 Bộ Luật Tố tụng Hình sự:
  4. Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định có khối lượng 0,0966 g được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra; 01 hộp giấy hình chữ nhật, bên trên có chữ “Rơ lưỡi đông fa”;

    Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Vivo bên trong có số thuê bao 0707761996.

    (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 133/QĐ-VKSTPTĐ ngày 31/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức; Phiếu nhập kho ngày 24/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).

  5. Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo Nguyễn Hoàng Anh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
  7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

(Ký tên, ghi rõ họ tên)

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thái Bình

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND thành phố Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS thành phố Thủ Đức;
  • - Trại giam và bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ đến vụ án;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thái Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 189/2024/HS-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 189/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger