Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 189/2024/HS-ST

Ngày: 06-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Trọng Quân.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Bạn và bà Võ Thị Thu Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 180/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 251/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Huỳnh Văn H, sinh năm 1988 tại tỉnh Bắc Giang; nơi đăng ký thường trú: Tổ D, ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Huỳnh Văn H1 và bà Nguyễn Thị T; có vợ tên Nguyễn Thị Anh T1, sinh năm 1997 và 01 người con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/4/2023, có mặt tại phiên tòa.
  2. Đặng Xuân D, sinh năm 1997 tại tỉnh Bình Phước; nơi đăng ký thường trú: Tổ B, ấp S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Đặng Văn L và bà Phạm Thị H2; có vợ tên Phan Thị Diễm N sinh năm 1999 và 01 người con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/4/2023, có mặt tại phiên tòa.
  3. Lê Đình H3, sinh năm 1991 tại tỉnh Nghệ An; nơi đăng ký thường trú: Xóm H, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Lê Đình P và bà Nguyễn Thị L1; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/4/2023, có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

  1. Cù Quỳnh N1, sinh năm 1996; Vắng mặt.
  2. Vũ Hùng C, sinh năm 1996; Vắng mặt.
  3. Nguyễn Thị Mỹ Q, sinh năm 1999; Vắng mặt.
  4. Phạm Thị H4, sinh năm 1987; Vắng mặt.
  5. Phan Thị Hồng N2, sinh năm 1998. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 00 ngày 16/4/2023, Công an phường T kiểm tra hành chính căn nhà có địa chỉ: A tổ B, khu phố H, phường T thì phát hiện tại phòng không số phía bên phải tầng 1 căn nhà đang bật nhạc lớn, có ánh đèn xoay, trên bàn ở trong phòng có 01 đĩa sứ màu trắng, trên đĩa để 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng được cuộn tròn thành dạng ống hút, 01 thẻ ATM và các chất tinh thể màu trắng có khối lượng M2=0,4303 gam. Trong phòng Đặng Xuân D, Cù Quỳnh N1, Vũ Hùng C, Nguyễn Thị Mỹ Q vừa sử dụng ma túy xong và đang nằm nghe nhạc. Lúc này, ở dưới cổng căn nhà trên, Huỳnh Văn H, Lê Đình H3, Phạm Thị H4Phan Thị Hồng N2 đang tụ tập. Các đối tượng khai nhận đến để chơi ma túy cùng nhóm người trong căn nhà trên.

Qua điều tra xác định: Khoảng giữa tháng 03/2023, Huỳnh Văn H thuê căn nhà 03 tầng địa chỉ: A tổ B, khu phố H, phường T, thành phố T sử dụng 01 phòng để ở, đồng thời H mua thêm dàn loa, đèn chiếu, máy tạo khói và trang trí phòng không số bên phải trên tầng 01 của căn nhà nhằm mục đích cho người khác thuê để tổ chức sử dụng ma túy. Trường hợp khách có nhu cầu thì H sẽ bán ma túy và liên hệ người phục vụ khách sử dụng ma túy.

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 16/4/2023, Đặng Xuân DLê Đình H3 liên lạc qua ứng dụng Zalo với Huỳnh Văn H để đặt phòng sử dụng ma túy và nghe nhạc thì được H đồng ý cho thuê phòng với giá 2.500.000 đồng/08 giờ. DH3 thỏa thuận với nhau sau khi sử dụng ma túy xong D sẽ chịu tiền thuê phòng còn H3 chịu tiền mua ma túy. Khoảng 18 giờ 00 cùng ngày, DH3 đến nơi, H dẫn lên phòng trên tầng 01 đã chuẩn bị trước, trong phòng có sẵn loa, đèn chiếu sáng, 01 đĩa sứ, 01 tờ tiền polime mệnh giá 20.000 đồng cuộn thành dạng ống hút, 01 thẻ ATM. Lúc này, D hỏi mua ma túy để sử dụng nên H đã bán cho D 1/2 hộp ma túy tổng hợp (dạng khay) với số tiền 2.500.000 đồng và 02 viên thuốc lắc với số tiền 500.000 đồng, số tiền này sẽ thanh toán sau khi sử dụng ma túy xong.

Sau khi H mang ma túy lên phòng, D bẻ một phần thuốc lắc sử dụng bằng cách uống với nước ngọt, D cà nhuyễn ma túy, chia thành từng đường dọc rồi dùng tờ tiền polime mệnh giá 20.000 đồng đã cuộn thành dạng ống hút để cả hai sử dụng bằng cách hít. Tiếp đó, D gọi điện rủ thêm Cù Quỳnh N1Vũ Hùng C; H3 gọi điện rủ thêm Nguyễn Thị Mỹ Q cùng đến sử dụng ma túy; Sau khi đến nơi, N, CQ tự lấy một phần ma túy dạng thuốc lắc uống với nước ngọt và hít ma túy dạng khay rồi nằm nghe nhạc. Một lúc sau, D nhờ H gọi dùm thêm 01 người nữ đến để cùng sử dụng ma túy, thì H gọi cho Phan Thị Hồng N2 đến để phục vụ, còn H3 lái xe đi đón thêm bạn là Phạm Thị H4 đến để cùng sử dụng ma túy. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, N2 bắt xe Grap đến, cùng lúc đó H3 cũng chở theo H4 đến. Khi cả nhóm đang đứng chờ H ra mở cổng thì Công an phường T đến lập biên bản kiểm tra.

Khám xét căn nhà trên, Cơ quan Công an phát hiện, thu giữ tại phòng trên tầng 01 nơi các đối tượng đang bay lắc gồm: 01 đĩa sứ màu trắng; 01 thẻ nhựa dạng thẻ ATM; 01 tờ tiền polyme mệnh giá 20.000 đồng cuộn tròn thành hình ống hút; Chất tinh thể màu trắng khối lượng 0,4303 gam (Kí hiệu M2), D khai nhận là ma túy tổng hợp; 02 loa đứng màu đen, kiểu dáng Sony SS-SS700RF; 01 loa thùng, kiểu dáng Sony SA-WS700RF; 01 loa ngang, kiểu dáng Sony SS-S700RF; 01 đèn chiếu lazer show 110-2SOW SO/60HZ; 01 đèn chiếu BLUETOOTH kiểu dáng ROHSFCEN6082S-1:2014; 01 đèn chiếu NGANG lazer AC100-240V; 01 máy tạo khói kiểu dáng 1000W FOGGER AC220-240WSOHZ; 01 điện thoại di động Iphone Xr, số máy MH6N3VN/3, số seri DX3DV68JKXK2; 01 điện thoại di động OPPO RENO 2, số sê ri UKJRNVSCLVPRCAFY; 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax màu tím, số máy MQ9T3VN/A, số sê ri K62TXVHFKX.

Tiếp tục tiến hành khám xét tại tầng 2 của ngôi nhà, Cơ quan Công an thu giữ: 01 túi nylon miệng kéo dính chứa 20 viên nén hình dạng con cá màu cam khối lượng 7,1344 gam (Kí hiệu M1-1); 01 túi nylon miệng kéo dính chứa 04 túi nylon miệng kéo dính đều chứa tinh thể màu trắng khối lượng 7,2871 gam (Kí hiệu M1-2); 01 túi nylon miệng kéo dính chứa 01 viên nén hình dạng con cá màu nâu nhạt khối lượng 0,4805 gam (Kí hiệu M1-3); 01 túi nylon miệng kéo dính chứa 07 viên nén hình dạng con cá màu cam khối lượng 2,5104 gam (Kí hiệu M1-4); 01 túi nylon miệng kéo dính chứa một phần viên nén màu nâu nhạt khối lượng 0,2581 gam (Kí hiệu M1-5); 01 phần viên nén màu nâu nhạt khối lượng 0,1909 gam (Kí hiệu M1-6a); 01 túi nylon miệng kéo dính chứa 01 viên nén hình tròn màu xanh khối lượng 0,3343 gam (Kí hiệu M1 -6b). Huỳnh Văn H khai nhận số ma túy trên do H mua của nam thanh niên tên “Gà con” tại thành phố B, tỉnh Bình Dương. Mục đích H cất giấu số ma túy trên là để bán cho khách khi có yêu cầu.

Tại Biên bản chẩn đoán người nghiện ma túy ngày 17/4/2023 của Trung tâm y tế thành phố T xác định: Lê Đình H3, Đặng Xuân D, Vũ Hùng C, Cù Quỳnh N1, Nguyễn Thị Mỹ Q nghiện ma túy loại Methamphetamine (MET), M (MDMA); còn lại 03 đối tượng Huỳnh Văn H, Phạm Thị H4, Phan Thị Hồng N2 không nghiện ma túy.

Bản kết luận giám định số 213/KL-KTHS(MT) ngày 25/4/2023 của Phòng K - Công an tỉnh B xác định: Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy loại Ketamine, có khối lượng: 7,2871 gam (M1 – 2); 0,4303 gam (M2); Mẫu 01 viên nén dạng hình con cá màu nâu nhạt và các mẫu 01 viên nén dạng hình con cá màu nâu nhạt, mẫu 01 viên nén hình tròn màu xanh gửi giám định đều là ma túy loại MDMA, có khối lượng 0,4805 gam (M1-3); 0,2581 gam (M1-5); 0,1909 gam (M1-6a); 0,3353 gam (M1-6b).

Bản kết luận giám định số 213/KLBS-KTHS (MT) ngày 10/5/2023 của Phòng K - Công an tỉnh B xác định: Các mẫu hình dạng con cá màu cam gửi giám định đều là ma túy loại Methamphetamine; MDMA, có khối lượng: 7,1344 gam (M1 – 1); 2,5104 gam (M1-4).

Tổng khối lượng ma túy Huỳnh Văn H tàng trữ nhằm mục đích để bán là: 7,7174 gam ma túy loại Ketamine; 9,6448 gam ma túy loại MDMA, Methamphetamine; 1,2638 gam ma túy loại MDMA.

Bản Cáo trạng số 166/CT-VKSTA ngày 24/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo như sau:

- Truy tố bị cáo Huỳnh Văn H về tội mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 và điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự;

- Truy tố các bị cáo Lê Đình H3Đặng Xuân D về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

*) Kiểm sát viên giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử nêu những hành vi các bị cáo đã thực hiện và căn cứ pháp luật, quyết định giữ nguyên nội dung truy tố như Cáo trạng và nhận xét các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo H3 gia đình có công với cách mạng. Kiểm sát viên đề nghị:

- Căn cứ quy định tại điểm p, khoản 2 Điều 251 và điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 55, 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt Huỳnh Văn H từ 09 năm đến 10 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy và 08 năm đến 09 năm tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung từ 17 năm đến 19 năm tù.

- Căn cứ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt Đặng Xuân D từ 09 năm đến 10 năm tù;

- Căn cứ quy định tại điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt Lê Đình H3 từ 09 năm đến 10 năm tù;

Đề nghị xử lý vật chứng như sau:

- Tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định; 01 (một) đĩa sứ màu trắng; 01 (một) thẻ ATM.

- Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 (một) tờ polime mệnh giá 20.000đ; 02 loa đứng màu đen, kiểu dáng Sony SS-SS700RF; 01 loa thùng, kiểu dáng Sony SA-WS700RF; 01 loa ngang, kiểu dáng Sony SS-S700RF; 01 đèn chiếu lazer show 110-2SOW SO/60HZ; 01 đèn chiếu BLUETOOTH kiểu dáng ROHSFCEN6082S-1:2014; 01 đèn chiếu NGANG lazer AC100-240V; 01 máy tạo khói kiểu dáng 1000W FOGGER AC220-240WSOHZ; 01 điện thoại di động Iphone Xr, số máy MH6N3VN/3, số seri DX3DV68JKXK2; 01 điện thoại di động OPPO RENO 2, số sê ri UKJRNVSCLVPRCAFY; 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax màu tím, số máy MQ9T3VN/A, số sê ri K62TXVHFKX.

*) Các bị cáo Huỳnh Văn H, Đặng Xuân DLê Đình H3 khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện đúng như Cáo trạng đã truy tố. Trong phần nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án, các bị cáo đã nhận thấy hành vi của mình là trái pháp luật, ăn năn hối cải; bị cáo Lê Đình H3 trình bày có bác ruột là liệt sĩ, có cha được tặng thưởng Huân chương Chiến công. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi của các bị cáo:

Qua tranh tụng tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi như Viện kiểm sát đã nêu trong Bản cáo trạng. Bị cáo H khai nhận đã thuê nhà, sửa và trang bị một phòng gồm loa, đèn laser, cung cấp dụng cụ để cho những người sử dụng ma túy thuê bay lắc đồng thời mua ma túy về bán cho những đối tượng này thu lợi. Bị cáo H3 thừa nhận là người rủ bị cáo D tìm thuê phòng để sử dụng ma túy; bị cáo D sau khi được H3 rủ đã liên hệ với bị cáo H để thuê phòng và trực tiếp hỏi mua của bị cáo H ½ hộp ma túy đá và 2 viên ma túy khay với giá 3.000.000 đồng. Sau khi H giao ma túy, bị cáo D cà nhuyễn ma túy và chia thành các đường kẻ để sử dụng và gọi điện rủ thêm Cù Quỳnh N1, Vũ Hùng C; bị cáo H3 gọi điện rủ thêm Nguyễn Thị Mỹ Q đến cùng sử dụng ma túy.

[3] Về lỗi của các bị cáo: Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, biết được tác hại của ma túy và việc mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy bị nghiêm cấm nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện.

[4] Từ những nhận định nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của các bị cáo Huỳnh Văn H, Đặng Xuân DLê Đình H3 đã đủ yếu tố cấu thành tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại Điều 255 của Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Huỳnh Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy quy định tại Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Huỳnh Văn H, Đặng Xuân DLê Đình H3 tổ chức cho nhiều người cùng sử dụng trái phép chất ma túy nên vi phạm quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255; bị cáo Huỳnh Văn H mua bán trái phép nhiều chất ma túy là Methamphetamine (MET), M (MDMA) và Ketamine với tổng khối lượng là 7,7174 gam ma túy loại Ketamine; 9,6448 gam ma túy loại MDMA, Methamphetamine; 1,2638 gam ma túy loại MDMA. Căn cứ vào quy định tại Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 xác định tổng tỷ lệ phần trăm của các chất ma túy trong vụ án này là: (7,7174/100 + 10,9086/30) x 100 = 44,079%. Như vậy, hành vi của bị cáo Huỳnh Văn H vi phạm quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không gây oan sai cho các bị cáo.

[5] Hành vị của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách quản lý của Nhà nước về ma túy và các chất gây nghiện, xâm phạm an ninh, trật tự tại địa phương, gây nên sự nghiện ngập, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người, đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng nghiện ngập, những tệ nạn xã hội và nhiều căn bệnh hiểm nghèo, tạo gánh nặng cho xã hội. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và Tòa án nhân dân thành phố Thuận An đưa các bị cáo ra xét xử là cần thiết, cần nghiêm khắc cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và răn đe các đối tượng khác phòng ngừa chung, nhất là trong giai đoạn hiện nay tình hình tội phạm về ma túy diễn ra nhiều, thủ đoạn ngày càng tinh vi, để lại những hậu quả nặng nề, gây nhiều bức xúc cho xã hội. Bản thân các bị cáo là những đối tượng sử dụng ma túy, biết rõ tác hại của ma túy và việc tổ chức, mua bán trái phép chất ma túy bị nhà nước nghiêm trị nhưng vì tham lam tư lợi và để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân mà đã cùng nhau phạm tội. Do đó, việc xử lý các bị cáo cũng là bài học cho những đối tượng khác để tránh xa và từ bỏ ma túy.

[6] Các bị cáo thực hiện tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới hình thức đồng phạm giản đơn, theo quy định tại các điều 17, 58 của Bộ luật Hình sự cần phân hóa vai trò của từng bị cáo để có mức hình phạt phù hợp. Bị cáo H3 là người rủ

rê bị cáo D để thuê phòng, mua ma túy; bị cáo D trực tiếp liên hệ thuê phòng và mua ma túy của bị cáo H sau đó trực tiếp nghiền nát ma túy và chia thành các phần nhỏ dưới dạng đường kẻ để những người khác sử dụng nên bị cáo H3 có vai trò cao hơn bị cáo D; bị cáo H đồng phạm với bị cáo DH3 do đã có hành vi cung cấp các công cụ, vật dụng, địa điểm để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên vai trò thấp hơn bị cáo H3 và bị cáo D.

[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau phạm tội các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Gia đình bị cáo Lê Đình H3 có công với cách mạng, bác ruộc bị cáo là liệt sỹ Lê Đình Q1; cha bị cáo là ông Lê Đình P được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đề nghị áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự để xử phạt các bị cáo với mức hình phạt như nêu trên là có căn cứ, phù hợp với tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo và đã cân nhắc đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo nên được chấp nhận.

[9] Đối với hành vi của Vũ Hùng C, Cù Quỳnh N1Nguyễn Thị Mỹ Q, quá trình điều tra xác định các đối tượng trên được Lê Đình H3Đặng Xuân D rủ đến sử dụng trái phép chất ma tuý nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với những người trên là có căn cứ.

[10] Đối với Phạm Thị H4 là người được Lê Đình H3 rủ đến chơi, quá trình điều tra xác định H4 không biết việc H3 rủ đến để sử dụng trái phép chất ma túy và tại thời điểm kiểm tra H4 mới đến trước cửa nhà, chưa sử dụng ma túy, kết quả kiểm tra xác định H4 không nghiện ma túy nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là có căn cứ.

[11] Đối với Phan Thị Hồng N2 là tiếp viên được Huỳnh Văn H gọi điện thoại đến để phục vụ cho các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, quá trình điều tra xác định N2 chỉ mới đến trước cửa nhà thì bị Công an kiểm tra phát hiện, chưa sử dụng ma tuý, kết quả kiểm tra không nghiện ma túy. Do vậy, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là có căn cứ.

[12] Đối với nam thanh niên tên “Gà con” là người bán ma túy cho bị cáo Huỳnh Văn H, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra nhưng chưa xác minh được nhân thân, nơi cư trú nên sẽ xem xét xử lý sau.

[13] Về xử lý vật chứng:

- Đối với bì thư được niêm phong ghi số: 213/PC09 (M1) và 213/PC09 (M2) bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy;

- Đối với 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ ATM bị hư hỏng là công cụ được các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu tiêu hủy;

- Đối với 01 (một) tờ polime mệnh giá 20.000đ; 02 loa đứng màu đen, ghi chữ Sony SS-SS700RF; 01 loa thùng, ghi chữ Sony SA-WS700RF; 01 loa ngang màu đen,

ghi chữ Sony SS-S700RF; 01 đèn chiếu lazer show 110-2SOW SO/60HZ; 01 đèn chiếu Bluetooth HT ghi chữ ROHSFCEN6082S-1:2014; 01 đèn chiếu ngang lazer AC100-240V; 01 máy tạo khói 1000W FOGGER AC220-240WSOHZ là công cụ tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 điện thoại di động Iphone Xr, số máy MH6N3VN/3, số seri DX3DV68JKXK2 (nứt màn hình sau); 01 điện thoại di động OPPO RENO 2, số sê ri UKJRNVSCLVPRCAFY; 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax màu tím, số máy MQ9T3VN/A, số sê ri K62TXVHFKX là phương tiện liên hệ để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.

[14] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

- Tuyên bố các bị cáo Đặng Xuân DLê Đình H3 phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

- Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn H phạm các tội mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt:

- Căn cứ vào điểm p khoản 2 Điều 251; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 55 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Văn H 09 (Chín) năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy và 08 (T2) năm tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 17 (Mười bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/4/2023.

- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đặng Xuân D 09 (Chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/4/2023.

- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Đình H3 09 (Chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/4/2023.

3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự;

Tịch thu tiêu hủy bì thư được niêm phong ghi số: 213/PC09 (M1) và 213/PC09 (M2) bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định và 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ ATM bị hư hỏng;

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) tờ polime mệnh giá 20.000đ; 02 loa đứng màu đen, ghi chữ Sony SS-SS700RF; 01 loa thùng, ghi chữ Sony SA-WS700RF; 01 loa ngang màu đen, ghi chữ Sony SS-S700RF; 01 đèn chiếu lazer show 110-2SOW SO/60HZ; 01 đèn chiếu Bluetooth HT ghi chữ ROHSFCEN6082S-1:2014; 01 đèn chiếu ngang lazer AC100-240V; 01 máy tạo khói 1000W FOGGER AC220-240WSOHZ; 01 điện thoại di động Iphone Xr, số máy MH6N3VN/3, số seri DX3DV68JKXK2 (nứt màn hình sau); 01 điện thoại di động OPPO RENO 2, số sê ri

UKJRNVSCLVPRCAFY; 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax màu tím, số máy MQ9T3VN/A, số sê ri K62TXVHFKX.

(Các tài sản, vật chứng nêu trên thể hiện trong biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25/6/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An và ủy nhiệm chi số 114 ngày 09/7/2024).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV.

Mỗi bị cáo Huỳnh Văn H, Đặng Xuân DLê Đình H3 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Trọng Quân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 189/2024/HS-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về vụ án hình sự (mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 189/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Xuân D và đồng phạm tổ chức sử dụng trái phép, mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger