Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 189/2023/HS-ST

Ngày: 02-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trịnh Ân
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tư
  • Bà Nguyễn Thị Vượng
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Thiện – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Đặng Đức Hùng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 02 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 181/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 185/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

1.Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 1990; Nơi đăng ký HKTT: Tổ dân phố X, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Chỗ ở: Thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 9/12; Bố: Nguyễn Văn L, sinh năm 1965 (đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị M, sinh năm 1968; Gia đình có 2 anh em, bị cáo là thứ nhất; Vợ: Vi Thị H, sinh năm 1994; Con: Có 01 con sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30/6/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B và có mặt tại phiên tòa.

2.Bị hại: Chị Nguyễn Minh C, sinh năm 1978 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số nhà H, đường L, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Chị Vi Thị H, sinh năm 1994(vắng mặt)

HKTT: Thôn Đeo Trang, xã Hộ Đáp, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

Chỗ ở: Thôn Hùng Lâm, xã Hồng Thái, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

3.2. Anh Hà Văn K, sinh năm 1989(vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố Q, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

1

3.3. Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1970(vắng mặt)

HKTT: Thôn Cổng Trâu, xã Đồng Hưu, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.

Chỗ ở: Số nhà 40, đường Nguyễn Bình, phường Dĩnh Kế, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

3.4. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1968(Có mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố X, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 04/3/2017, Nguyễn Văn T có ký hợp đồng thuê xe ô tô nhãn hiệu Daewoo Centra, biển kiểm soát 98A-012.41 của chị Nguyễn Minh C, sinh năm 1978; trú tại số nhà H, đường L, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Thời hạn thuê xe từ 20 giờ ngày 04/3/2017 đến 17 giờ ngày 08/3/2017, giá thuê là 2.400.000đồng. Ngày 08/3/2017 do cần tiền chi tiêu nên T mang ô tô của chị C đi cầm cố cho bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1970; trú tại thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang lấy 30.000.000đồng. Ngày 14/3/2017, T đến gặp chị C và cam kết đến ngày 18/3/2017 sẽ chuộc xe về trả cho chị C. Do không có tiền chuộc xe nên T bỏ đi làm ăn ở Lâm Đồng.

Ngày 15/3/2017, anh Giáp Văn C1, sinh năm 1969 (chồng của chị C) giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 98D1-521.16; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Novo, biển kiểm soát 20N1-5521 và 01 hợp đồng cho thuê xe ô tô tự lái đề ngày 04/3/2017.

Tại bản cáo trạng số195/CT-VKSngày 09/10/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T ra trước Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang để xét xử bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 175 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

- Áp dụng khoản 3 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời gian tù tính từ ngày bắt tạm giam 30/6/2023.

Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

2

Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Minh C không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên về trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

  • +Trả lại chị Vi Thị H 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 98D1-521.16.
  • +Trả lạibị cáo Nguyễn Văn T 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Novo, biển kiểm soát 20N1-5521nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội bị cáo T1 chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo T không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát.

Bà Nguyễn Thị M không có ý kiến gì tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát mà chỉ xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T vì do làm ăn thua lỗ bị cáo rơi vào bước đường cùng nên mới phải cắm xe thuê của chị C, sau đó bỏ đi miền nam làm ăn với mục đích sau này có điều kiện đền bù trả cho chị C.

Lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, cảm thấy rất hối hận về hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm đoàn tụ cùng gia đình và trở thành công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Về sự có mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa bị hại, một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng tới kết quả xét xử do họ đã có lời khai trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt người liên quan là có căn cứ.

[3] Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình gây ra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, kết luận định giá tài sản

3

số 92/KL-HĐĐG ngày 16/5/2023và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Ngày 04/3/2017, Nguyễn Văn T thuê của chị Nguyễn Minh C, sinh năm 1978; trú tại số nhà H, đường L, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang chiếc xe ô tô nhãn hiệu Doewoo Centra, biển kiểm soát 98A-021.41, trị giá 200.000.000đồng và sử dụng đi lại. Ngày 08/3/2017, T cần tiền chi tiêu cá nhân nên đã tự ý cầm cố chiếc xe cho bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1970; trú tại thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang lấy số tiền 30.000.000đồng và sau đó bỏ trốn.Như vậy có đủ căn cứ kết luận Nguyễn Văn T phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 3 Điều 175BLHS. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo theo tội danh và Điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị đường lối giải quyết vụ án tại phiên tòa hôm nay, HĐXX thấy là phù hợp với các quy định của pháp luật cần chấp nhận.

[4] Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây hoang mang lo sợ cho quần chúng nhân dân tại địa phương. Do vậy, cần phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo khôngcó tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã tác động đến mẹ đẻ của bị cáo là bà Nguyễn Thị M1 thường thiệt hại,khắc phục cho bị hại, bị hại chị C có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần áp dụng cho bị cáo.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương nơi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Do đó, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội. Xong khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo là con em lao động nhất thời phạm tội, phạm tội lần đầu nên cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để xét xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

[7] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chínhlẽ ra cần áp dụng khoản 5 Điều 175 BLHS phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo từ 10 triệu đồng đến 100

4

triệu đồng để nộp ngân sách nhà nước. Xong Hội đồng xét xử thấy bị cáo, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bố chết, con còn nhỏ, bị cáo không có công ăn việc làm ổn định nên không có thu nhập thường xuyên cần miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là thể hiện tính nhân đạo của pháp luật của xã hội chủ nghĩa và để bị cáo yên tâm cải tạo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội là phù hợp với các quy định của pháp luật.

[8] Về trách nhiệm dân sự và các vấn đề có liên quan:

Chị Nguyễn Minh C không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên về trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

Đối với số tiền 70.000.000đồng bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1968 (là mẹ bị cáo T) đã bồi thường cho chị Nguyễn Minh C, bà M không đề nghị bị cáo trả lại nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Đối với bà Nguyễn Thị N nhận cầm cố chiếc xe ô tô biển kiểm soát 98A - 012.41 nhưng không biết đó là tài sản do T phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý

Đối với anh Hà Văn K cho T mượn giấy phép lái xe ô tô và đi cùng đến nhà bà N để T cầm cố chiếc xe ô tô. Anh K không được T bàn bạc và không được hưởng lợi nên không đồng phạm.

[9] Về vật chứng của vụ án:

  • +Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 98D1-521.16 là tài sản mang tên chị Vi Thị H, chị H không biết việc bị cáo T mang xe đi để làm gì nên cần trả lại cho chị Vi Thị H.
  • + Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Novo, biển kiểm soát 20N1-5521 của bị cáo Nguyễn Văn T2 liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

[12] Cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 175; điểm b,s khoản 1, khoản 2Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 329; Điều 331; Điều 333; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/NQ – UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Xử:

5

1.1.Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời gian tù tính từ ngày bắt tạm giam 30/6/2023.

Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng:

  • +Trả lại chị Vi Thị H 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 98D1-521.16.
  • + Trả lại bị cáo Nguyễn Văn T 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Novo, biển kiểm soát 20N1-5521 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.

5. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Giang;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Giang;
  • - Cơ quan THAHS Công an thành phố Bắc Giang;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang
  • - Bị cáo;
  • - UBND thị trấn Bố Hạ, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án; Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Ân

6

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

Nguyễn Văn Bảng Hoàng Thị Hồng

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Ân

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 189/2023/HS-ST ngày 02/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 189/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger