Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 189/2025/HSST

Ngày 13-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Kim Hoa
  2. Ông Nguyễn Văn Hoàn

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Chu Tường Vy – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2025, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 182/2025/HS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 196/2025/QĐXXST- HS ngày 03/6/2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Hãi V, sinh năm 1988 tại tỉnh Quảng Nam; thường trú: Thôn Q, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn P, sinh năm 1951 và bà Trần Thị L, sinh năm 1953; có 03 anh chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1977, nhỏ nhất sinh năm 1996; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/4/2024, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  1. Công ty Trách nhiệm hữu hạn X; địa chỉ: Tổ D, khu phố P, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Người đại diện hợp pháp: Bà Trần Thị Hồng Q, sinh năm 1980 – Chức vụ: Giám đốc, là người đại diện theo pháp luật. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  2. Công ty Trách nhiệm hữu hạn X; địa chỉ: Số B, đường B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Người đại diện hợp pháp: Ông Bùi Văn T, sinh năm 1991 – chức vụ: Chủ tịch Công ty kiêm Giám đốc, là người đại diện theo pháp luật. Vắng mặt.
  3. Ông Vương Đại P1, sinh năm 1983 – Chủ hộ kinh doanh Minh N; địa chỉ: Tổ B, khu phố T, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
  4. Công ty Trách nhiệm hữu hạn T8; địa chỉ: Số F, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Người đại diện hợp pháp: Bà Lê Thị Tuyết O, sinh năm 1992 – chức vụ: Chủ tịch Công ty kiêm Giám đốc, là người đại diện theo pháp luật. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  5. Công ty Trách nhiệm hữu hạn T9; địa chỉ: Số A, đường L, ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Người đại diện hợp pháp: Ông Võ Anh T1, sinh năm 1983 – chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Giám đốc, là người đại diện theo pháp luật; địa chỉ: Số A, ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
  6. Bà Đặng Ngọc Hoàng C, sinh năm 1975 – Chủ hộ kinh doanh Đặng Ngọc Hoàng C; địa chỉ: Số A, B, Phường G, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
  7. Công ty Trách nhiệm hữu hạn X; địa chỉ: Số C L, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Ngọc Hồng T2, sinh năm 1981 – chức vụ: Chủ tịch Công ty kiêm Giám đốc, là người đại diện theo pháp luật; địa chỉ: Tổ B, khu phố E, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Bà Vũ Mai U, sinh năm 1984; địa chỉ: Số A, ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
  2. Bà Bùi Thị Minh N, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ B, khu phố T, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
  3. Công ty Trách nhiệm Hữu hạn X; địa chỉ: Số C P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Văn T3, sinh năm 1978, chức vụ: Phó tổng giám đốc, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 28/5/2025). Có mặt.

Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Nguyễn Thị Cẩm T4, Ung Thị Lệ G, Phạm Văn T5, Hồ Văn M, Phạm Thị Lan Đ, Phạm Xuân P2, Nguyễn Thị K, Phạm Văn K1, Lê Gia P3, Phạm Thị H, Ngô Thị B, Cao Văn Á, Trần Thị Ngọc T6, Lê Thị Kim N1, Nguyễn Hữu T7, Nguyễn Thị Thùy D. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hãi V kí kết hợp đồng lao động số: E1156/2022/HĐLĐ ngày 28/04/2022 với Công ty TNHH X sản xuất Giấy “Khải Hoàn” với vị trí làm việc là nhân viên kinh doanh. Nhiệm vụ cụ thể của V là tìm kiếm khách hàng, chào các mặt hàng là giấy văn phòng phẩm. Khách hàng đặt hàng thông qua V và hỗ trợ thu hồi công nợ, bằng cách gọi điện thoại yêu cầu khách hàng thanh toán nợ về cho công ty (V không được phép trực tiếp thu tiền dưới mọi hình thức của khách hàng). Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, từ ngày 16/11/2022 đến ngày 10/4/2023, Nguyễn Hãi V đã nhiều lần dùng thủ đoạn gian dối, cung cấp số tài khoản Ngân hàng cá nhân, yêu cầu khách hàng thanh toán tiền vào tài khoản cá nhân của V và chiếm đoạt tổng số tiền 216.385.000 đồng của Công ty TNHH X sản xuất Giấy “Khải Hoàn”. Đồng thời, Nguyễn Hãi V báo Công ty lên đơn, giao hàng cho khách, phát sinh nợ phải thu cho Công ty X, cụ thể như sau:

Nguyễn Hãi Vũ thu của Công ty TNHH X do bà Trần Thị Hồng Q làm Giám đốc tổng số tiền: 74.000.000₫ bằng hình thức chuyển khoản từ số tài khoản 0081000700993 V1 của Trần Thị Hồng Q đến số tài khoản 109875970196 V2 của Nguyễn Hãi V cụ thể: Ngày 16/11/2022 thu 6.815.000đ; Ngày 17/11/2022 thu 1.055.000đ; Ngày 28/11/2022 thu 19.830.000đ; Ngày 12/01/2023 thu 19.800.000đ; Ngày 13/02/2023 thu 5.850.000đ; Ngày 02/03/2023 thu 20.650.000₫ (06 lần chuyển). Trong tổng số tiền 74.000.000₫ mà Vũ thu thì đã giao hàng cho bà Q tương ứng với trị giá hàng hóa là 33.520.000₫, còn 40.480.000₫ bà Q không nhận được hàng do V không báo đơn hàng cho Công ty. Nguyễn Hãi V thông báo với bà Q đơn hàng chưa có hóa vì nhân viên kế toán của Công ty đang bận, sẽ xuất hóa đơn sau nên yêu cầu bà Q chuyển tiền hàng vào tài khoản cá nhân của V, bà Q không nghi ngờ gì nên đã chuyển tiền hàng vào tài khoản cá nhân của V.

Ngày 23/3/2023, V liên lạc với ông Bùi Văn T là đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH X để bán hàng là giấy Double A70 A4, số lượng 200 Ram, đơn giá là 70.500 đồng, thành tiền 14.100.000 đồng. Sau khi V báo giá, anh T nói giá cao hơn chỗ khác thì Vũ tự hạ giá tiền xuống 13.800.000 đồng (việc V tự động hạ giá hàng Công ty X không biết). V cung cấp số tài khoản 109875970196 ngân hàng V2 mang tên Nguyễn Hãi V cho ông T, ông T chuyển 13.800.000 đồng.

Ngày 29/3/2023, V liên lạc với bà Vũ Mai U là nhân viên của Công ty TNHH T9 để thông báo có suất khuyến mãi mua giấy nhưng khách không lấy nên chuyển qua chào bán cho phía công ty T9 với số tiền 32.340.000 đồng thì chị U đồng ý mua. Lúc này, V cung cấp số tài khoản 109875970196 ngân hàng V2 mang tên Nguyễn Hãi V cho bà U, bà U sử dụng số tài khoản 2203091984 của ngân hàng M1 mang tên Vũ Mai U chuyển số tiền 32.340.000 đồng đến số tài khoản 109875970196 ngân hàng V2 mang tên Nguyễn Hãi V. Sau khi chuyển khoản, Công ty TNHH T9 đã nhận đủ hàng hóa.

Ngày 04/4/2023, V liên lạc với ông Đặng Ngọc Hoàng C, đại diện theo pháp luật của H1 kinh doanh Đặng Ngọc H2 Cơ để chào bán hàng là giấy, số tiền 15.695.000 đồng, V yêu cầu ông C chuyển khoản vào số tài khoản 109875970196 ngân hàng V2 mang tên Nguyễn Hãi V bằng hình thức chuyển khoản từ số tài khoản 556252525252 Ngân hàng P4 của Đặng Ngọc H2 Cơ đến số tài khoản 109875970196 V2 của Nguyễn Hãi V vào ngày 04/04/2023.

Ngày 08/4/2023, V liên hệ với bà Lê Thị Tuyết O là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH T8. V nói cho bà O biết có một lô hàng giấy giá tốt nhưng phải thanh toán tiền qua tài khoản cá nhân của V mới được mua thì bà O đồng ý. Bà O đặt mua 100 Ram Giấy Excel 70A4, với giá tiền 6.450.000 đồng và 200 Ram Giấy cleveup 70A4 với giá tiền 12.100.000 đồng. V cung cấp số tài khoản 109875970196 ngân hàng V2 mang tên Nguyễn Hãi V cho chị O. Bà O chuyển số tiền 18.550.000 đồng từ số tài khoản 19038939907015 ngân hàng T10 mang tên Lê Thị Tuyết O đến số tài khoản 109875970196 ngân hàng V2 của V. Sau khi chuyển tiền, Công ty TNHH T8 đã nhận đủ hàng hóa.

Ngày 10/4/2023, Nguyễn Hãi V liên hệ với bà Bùi Thị Minh N là chủ Hộ kinh doanh Minh N để yêu cầu bà N chuyển số tiền 16.250.000 đồng để thanh toán cho đơn hàng 250 Ram giấy IK Plus 70A4 thành tiền 16.125.000 đồng và 125.000 đồng phí vận chuyển. V nói với bà N là số tài khoản của Công ty X đang thay đổi nên yêu cầu bà N chuyển khoản vào tài khoản cá nhân của V thì bà N đồng ý. V cung cấp số tài khoản 109875970196 V2 mang tên Nguyễn Hãi V để bà N chuyển khoản. Cùng ngày, bà N sử dụng số tài khoản 1014052085, ngân hàng V1 mang tên Bùi Thị Minh N chuyển số tiền 16.250.000 đồng đến số tài khoản 109875970196 V2 của Nguyễn Hãi V. Sau khi chuyển tiền, chủ Hộ kinh doanh Minh N đã nhận đủ hàng hóa.

Nguyễn Hãi Vũ thu của Công ty TNHH T11 do bà Nguyễn Ngọc Hồng T2 làm Giám đốc tổng số tiền 28.625.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản cụ thể:

  • Ngày 04/4/2023 thu 13.000.000 đồng từ số tài khoản 2204000001779000 ngân hàng V3 của Nguyễn Ngọc Hồng T2 chuyển vào số tài khoản 109875970196 ngân hàng V2 của Nguyễn Hãi V;
  • Ngày 10/4/2023 thu 15.625.000 đồng từ số tài khoản 61110000146235 ngân hàng BIDV của Lê Văn H3 chuyển vào số tài khoản 109875970196 ngân hàng V2 của Nguyễn Hãi V.

Cả 07 khách hàng V không làm việc trực tiếp mà đều liên hệ trao đổi qua mạng xã hội Zalo.

Sau khi chiếm đoạt được số tiền trên Nguyễn Hãi V đã chuyển một phần tiền vào sàn giao dịch tiền điện tử W đến các tài khoản ngân hàng khác nhau do sàn W cung cấp cho Nguyễn Hãi V gồm:

  • Số tài khoản 1030221755 ngân hàng V1 mang tên Trần Thị Ngọc T6 – sinh ngày: 08/4/1988, HKTT: 750/1 Bis N, phường D, Quận P, TP ., số tiền 3.000.000 đồng chuyển ngày 14/01/2023.
  • Số tài khoản 107877898608 ngân hàng V2 mang tên Phạm Thị H, sinh ngày: 10/10/1977, HKTT: Thôn Q, xã Đ, huyện K, Hải Phòng, số tiền lần lượt là 11.000.000 đồng và 1.200.000 đồng.
  • Số tài khoản 9364870613 ngân hàng V1 mang tên Nguyễn Thị Thùy D, sinh ngày: 15/9/2004, HKTT: 72/5 T, phường A, Quận H, TP Số tiền 15.000.000 đồng chuyển ngày 10/4/2023.
  • Số tài khoản 101877287643 ngân hàng V2 mang tên Nguyễn Hữu T7, sinh ngày: 18/03/1997, HKTT: 123/9 L, phường C, Quận G, TP Số tiền 3.000.000 đồng chuyển ngày 13/03/2023.
  • Số tài khoản 105874493459 ngân hàng V2 mang tên Nguyễn Bảo Đ1, sinh ngày: 09/09/2000, HKTT: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang. Số tiền 4.000.000 đồng và 3.000.000 đồng chuyển ngày 16/11/2022 và 17/11/2022.
  • Số tài khoản 108877954624 ngân hàng V2 mang tên Ngô Thị B, sinh ngày: 27/12/1954, HKTT: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, Hải Phòng. Ngày 03/3/2023 V chuyển số tiền 5.000.000 đồng, ngày 04/3/2023 chuyển số tiền 6.000.000 đồng, ngày 29/3/2023 chuyển 13.000.000 đồng và 19.000.000 đồng.
  • Số tài khoản 109875643202 ngân hàng V2 mang tên Ngô Hồng L1, sinh ngày: 21/01/1992, HKTT: Phú Thanh, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Ngày 23/3/2023 V chuyển số tiền 11.000.000 đồng và 4.500.000 đồng.
  • Số tài khoản 3301231099 ngân hàng V4 mang tên Lê Thị Kim N1, sinh ngày: 23/10/1999, HKTT: 329C Phạm Thế H4, phường D, Quận H, TP .. Ngày 30/3/2023 và 04/4/2023 Vũ chuyển lần lượt số tiền 450.000 đồng và 9.000.000 đồng.
  • Số tài khoản 107873068037 ngân hàng V2 mang tên Lê Gia P3, sinh ngày: 03/04/2002, HKTT: Khóm E, phường H, TP tỉnh Cà Mau. Ngày 13/02/2023 V chuyển số tiền 5.000.000 đồng.
  • Số tài khoản 107878043500 ngân hàng V2 mang tên Cao Văn Á, sinh ngày: 30/12/1991, HKTT: Tổ C, thôn A, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Ngày 10/4/2023 V chuyển số tiền 15.000.000 đồng.
  • Số tài khoản 19364870613 ngân hàng V1 mang tên Nguyễn Thị Thùy D, sinh ngày: 15/9/2004, HKTT: số G, T, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 10/4/2023 V chuyển số tiền 15.000.000 đồng. Số tiền còn lại Nguyễn Hãi V sử dụng tiêu xài cá nhân hết.

Sau khi xác minh thông tin chủ tài khoản, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tiến hành Ủy thác điều tra xác minh làm việc với các chủ tài khoản nhận chuyển tiền từ Nguyễn Hãi V. Tiến hành ghi lời khai chủ sở hữu các số tài khoản ngân hàng mà Nguyễn Hãi V đã chuyển tiền, kết quả điều tra xác định các chủ tài khoản trên không biết về khoản tiền được chuyển, tài khoản không sử dụng và đã bán tài khoản cho các đối tượng trên mạng xã hội (không rõ nhân thân, lai lịch), các chủ tài khoản chưa gặp và không có mối quan hệ gì với bị can Nguyễn Hãi V.

Cáo trạng số 208/CT-VKS- DA ngày 27 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An đã truy tố bị cáo Nguyễn Hãi V về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo từ 08 năm đến 09 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Hãi V có nghĩa vụ bồi thường cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn X số tiền 40.480.000 đồng; buộc bị cáo bồi thường cho Công ty TNHH X số tiền 175.905.000 đồng.

Người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH X yêu cầu bị cáo phải hoàn trả cho Công ty số tiền 175.905.000 đồng.

Bị hại Công ty Trách nhiệm hữu hạn T8 do bà Lê Thị Tuyết O đại diện có đơn xin xét xử vắng mặt và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, trong lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về nội dung: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, người tham gia tố tụng tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, có đủ căn cứ xác định: Nguyễn Hãi V là nhân viên kinh doanh của Công ty TNHH X có nhiệm vụ gọi điện hỏi thăm khách hàng và chào các mặt hàng là giấy văn phòng phẩm, V tìm kiếm khách hàng mới thông qua đi trực tiếp thị trường hoặc trên mạng xã hội, hỗ trợ thu hồi nợ bằng cách gọi điện yêu cầu thanh toán nợ nhưng không được trực tiếp thu tiền dưới mọi hình thức. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian từ ngày 16/11/2022 đến ngày 10/4/2023, Nguyễn Hãi V đã đưa ra thông tin gian dối chiếm đoạt số tiền 216.385.000 đồng của 07 khách hàng là Công ty Trách nhiệm hữu hạn X, Công ty Trách nhiệm hữu hạn X, ông Vương Đại P1 - Chủ hộ kinh doanh Minh N, Công ty Trách nhiệm hữu hạn T8, Công ty Trách nhiệm hữu hạn T9, bà Đặng Ngọc Hoàng C – Chủ hộ kinh doanh Đặng Ngọc Hoàng C; Công ty Trách nhiệm hữu hạn X. Hành vi của bị cáo Nguyễn Hãi V đã đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tình tiết định khung “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Cáo trạng số 208/CT-VKS- DA ngày 27 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại Công ty Trách nhiệm hữu hạn T8 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về nhân thân: Bị cáo là người lao động, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, người đại diện hợp pháp của bị hại là Công ty Trách nhiệm hữu hạn X TQ bà Trần Thị Hồng Q yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 40.480.000 đồng. Xét thiệt hại của bị hại là do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nên bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường là phù hợp, tại phiên tòa bị cáo chấp nhận nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Đối với Công ty TNHH X đã chuyển tài sản cho các bị hại, bị cáo đã chiếm đoạt tiền của các bị hại nhưng không trả lại cho Công ty, quá trình điều tra đại diện hợp pháp của Công ty yêu cầu bị cáo phải trả số tiền 175.905.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo đồng ý nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[8] Đối với các chủ tài khoản mà Nguyễn Hãi V chuyển tiền vào các tài khoản là do V thực hiện các giao dịch tiền điện tử Wefinex bao gồm có: Số tài khoản 1030221755 ngân hàng V1 mang tên Trần Thị Ngọc T6 – sinh ngày: 08/4/1988, HKTT: 750/1 Bis N, phường D, Quận P, TP ., số tiền 3.000.000 đồng chuyển ngày 14/01/2023; Số tài khoản 107877898608 ngân hàng V2 mang tên Phạm Thị H, sinh ngày: 10/10/1977, HKTT: Thôn Q, xã Đ, huyện K, Hải Phòng, số tiền lần lượt là 11.000.000 đồng và 1.200.000 đồng; Số tài khoản 9364870613 ngân hàng V1 mang tên Nguyễn Thị Thùy D, sinh ngày: 15/9/2004, HKTT: 72/5 T, phường A, Quận H, TP .. Số tiền 15.000.000 đồng vào ngày 10/4/2023; Số tài khoản 101877287643 ngân hàng V2 mang tên Nguyễn Hữu T7, sinh ngày: 18/03/1997, HKTT: 123/9 L, phường C, Quận G, TP .. Số tiền 3.000.000 đồng chuyển ngày 13/03/2023; Số tài khoản 105874493459 ngân hàng V2 mang tên Nguyễn Bảo Đ1, sinh ngày: 09/09/2000, HKTT: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang. Số tiền 4.000.000 đồng và 3.000.000 đồng chuyển vào ngày 16/11/2022 và 17/11/2022; Số tài khoản 108877954624 ngân hàng V2 mang tên Ngô Thị B, sinh ngày: 27/12/1954, HKTT: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, Hải Phòng. Ngày 03/3/2023 V chuyển số tiền 5.000.000 dồng, ngày 04/3/2023 chuyển số tiền 6.000.000 đồng, ngày 29/3/2023 chuyển 13.000.000 đồng và 19.000.000 đồng; Số tài khoản 109875643202 ngân hàng V2 mang tên Ngô Hồng L1, sinh ngày: 21/01/1992, HKTT: Phú Thanh, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Ngày 23/3/2023 V chuyển số tiền 11.000.000 đồng và 4.500.000 đồng; Số tài khoản 3301231099 ngân hàng V4 mang tên Lê Thị Kim N1, sinh ngày: 23/10/1999, HKTT: 329C Phạm Thế H4, phường D, Quận H, TP .. Ngày 30/3/2023 và 04/4/2023 Vũ chuyển lần lượt số tiền 450.000 đồng và 9.000.000 đồng; Số tài khoản 107873068037 ngân hàng V2 mang tên Lê Gia P3, sinh ngày: 03/04/2002, HKTT: Khóm E, phường H, TP ., tỉnh Cà Mau. Ngày 13/02/2023 V chuyển số tiền 5.000.000 đồng; Số tài khoản 107878043500 ngân hàng V2 mang tên Cao Văn Á, sinh ngày: 30/12/1991, HKTT: Tổ C, thôn A, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Ngày 10/4/2023 V chuyển số tiền 15.000.000 đồng; Số tài khoản 19364870613 ngân hàng V1 mang tên Nguyễn Thị Thùy D, sinh ngày: 15/9/2004, HKTT: số G, T, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 10/4/2023 V chuyển số tiền 15.000.000 đồng. Số tiền còn lại Nguyễn Hãi V sử dụng tiêu xài cá nhân. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an đã điều tra xác minh làm việc với các chủ tài khoản nhận chuyển tiền từ Nguyễn Hãi V, tuy nhiên các chủ sở hữu các số tài khoản ngân hàng mà Nguyễn Hãi V đã chuyển tiền xác định không biết về khoản tiền được chuyển, tài khoản không sử dụng và đã bán tài khoản cho các đối tượng trên mạng xã hội (không rõ nhân thân), các chủ tài khoản chưa gặp và không có mối quan hệ gì với Nguyễn Hãi V nên không có căn cứ để xử lý.

[9] Quá trình điều tra, bị cáo xác định điện thoại di động dùng để liên lạc với các bị hại để thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã làm mất, do đó không thu hồi để xử lý theo quy định được.

[10] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An là nghiêm khắc, Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt thấp hơn đề nghị cũng không làm ảnh hưởng đến việc đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương đồng thời cũng đủ sức răn đe, giao dục bị cáo.

[11] Về án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hãi V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hãi V 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/4/2024.

  1. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 589 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
  • Buộc bị cáo Nguyễn Hãi V bồi thường cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn X TQ số tiền 40.480.000 (bốn mươi triệu bốn trăm tám mươi nghìn) đồng.
  • Buộc bị cáo Nguyễn Hãi V bồi thường cho Công ty TNHH X số tiền 175.905.000 (một trăm bảy mươi lăm triệu chín trăm linh năm nghìn) đồng.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  1. Về án phí: Căn cứ Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Hãi V phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 10.819.250 (mười triệu tám trăm mười chín nghìn hai trăm năm mươi) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND TP.Dĩ An;
  • - Chi cục THADS TP.Dĩ An;
  • - Phân trại tạm giam KV TP.Dĩ An;
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - UBND nơi cư trú của bị cáo;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS, VP.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đỗ Thị Liễng

9

10

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 189/2025/HSST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 189/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hãi V phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger