Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

 

Bản án số: 189/2025/HS-PT

Ngày: 22-5-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Hoài Nam

Các Thẩm phán:

  • 1/ Ông Phạm Viết Hùng
  • 2/ Bà Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 22/05/2025, tại Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 136/2025/TLPT-HS, ngày 17/4/2025 đối với bị cáo Phạm Văn H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 67/2025/HSST, ngày 10/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo:

Phạm Văn H, sinh năm 1964 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: đường M, phường N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; Tạm trú: Ấp A, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn N và bà Nguyễn Thị R; hoàn cảnh gia đình: Có vợ và 02 con (lớn sinh năm 1988, nhỏ sinh năm 1991); tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo tại ngoại (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 25 phút ngày 26/02/2022, Công an xã B tiến hành tuần tra, phát hiện phía sau Áp A, xã B, huyện C có một nhóm người đang đánh bài ăn thua bằng tiền gồm: Phạm Văn H, Hoàng Văn Đ, Phạm Văn D, Phạm Văn T1, Phan Quốc T2, Vũ Thị A, Trịnh Văn T3 và Trần Thanh G. Tại thời điểm kiểm tra có 02 sòng bài gồm: Sòng thứ nhất do D, Đ, T1, G đánh bài phỏm trên bàn, ghế đá; sòng thứ hai do T2, A, T3 và H đánh bài phỏm trên bàn, ghế nhựa. Do đó, Công an xã B đã thu giữ 300.000 đồng tiền xâu, 13.310.000 đồng trên người tất cả các con bạc cùng một số vật chứng có liên quan và lập Biên bản bắt người phạm tội quá tang đối với H, Đ, D, T1, G, T2, Â và T3. Sau đó, vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C điều tra, xử lý.

Quá trình điều tra xác định được như sau:

Ấp A, xã B, huyện C là nhà của Phạm Văn H sử dụng để ở, phía sau nhà của H được H đổ bê tông bằng phẳng, phía trên được lợp mái tole và H thường cho người khác sử dụng làm nơi đánh bạc ăn thua bằng tiền nhưng không thường xuyên. Vào Khoảng 18 giờ ngày 26/02/2022, Hoàng Văn Đ, Phạm Văn D, Phạm Văn T1 và Trần Thanh G đến nhà của bị cáo H nhưng H không có mặt ở nhà nên cả nhóm tự lấy bộ bài Tây của H (đã chuẩn bị sẵn ở nhà của H) để đánh bạc cùng với nhau bằng hình thức bài phỏm. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, có thêm Phan Quốc T2, Vũ Thị A, Trịnh Văn T3 đến nhà của H chơi. Lúc này, Phạm Văn H về nhà, nhìn thấy nhóm của Đ, D, T1 và G đang đánh bạc với nhau (sòng thứ nhất) trên bàn ghế đá thuộc quyên quản lý của bị cáo H nhưng H không có ý kiến phản đối; đồng thời, H còn cùng T2, A, T3 rủ nhau tổ chức đánh bạc (sòng thứ 2) cùng với nhau trên bàn ghế nhựa kế bên thuộc quyền quản lý của H. Cả hai sòng bạc đều đánh bạc dưới hình thức bài phỏm. Luật chơi là mỗi ván chia 09 lá bài cho mỗi người, riêng người chia bài thì được 10 lá và ra bài đầu tiên. Kết thúc ván bài, người về nhì bỏ ra 20.000 đồng, người về thứ 3 bỏ ra 40.000 đồng và người về cuối bỏ ra 60.000 đồng cho người về nhất (tổng là 120.000 đồng). Người nào "ừ" (có 03 phỏm) thì bỏ 20.000 đồng tiên xâu vào trong lon kim loại mà H chuẩn bị sẵn ở dưới mỗi bàn, sau khi nghỉ chơi thì H là người lấy tiền xâu và toàn quyền Đ số tiền này. Vào ngày 26/2/2022, 02 sòng bạc đã xâu được 300.000 đồng (gồm tiền xâu của chiếu bạc thứ nhất là 200.000 đồng và tiền xâu của chiếu bạc thứ 2 là 100.000 đồng). Cụ thể, các con bạc tham gia đánh bạc như sau:

Sòng thứ nhất gồm có:

  1. Hoàng Văn Đ: Vào khoảng 18 giờ ngày 26/02/2022, Đ đem theo 2.100.000 đồng đến nhà của H để đánh bạc cùng với Phạm Văn D, Phạm Văn T1 và Trần Thanh G. Đ tham gia đánh nhiều ván, thua hết 240.000 đồng. Khi bị bắt, Đ bị thu giữ 1.860.000 đồng trong người mà Đ khai nhận là sử dụng để đánh bạc.
  2. Phạm Văn D; Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 26/02/2022, D đem theo 340.000 đồng đến nhà của H đề đánh bạc cùng với Đ, T1 và G: D tham gia đánh nhiều ván, thắng được 270.000 đồng. Khi bị bắt, D bị thu giữ 610.000 đồng trong người mà D khai nhận là sử dụng để đánh bạc.
  3. Phạm Văn T1: Vào khoảng 18 giờ ngày 26/02/2022, T1 đem theo 2.200.000 đồng đến nhà của H để đánh bạc cùng với Phạm Văn D, Hoàng Văn Đ và Trần Thanh G. T1 tham gia đánh nhiều ván, thua hết 160.000 đồng. Khi bị bắt, T1 bị thu giữ 2.040.000 đồng trong người mà T1 khai nhận là sử dụng đề đánh bạc.
  4. Trần Thanh G: Vào khoảng 19 giờ ngày 26/02/2022, G đem theo 2.850.000 đồng đền nhà của H để đánh bạc cùng với Hoàng Văn Đ, Phạm Văn T1 và Phạm Văn D. G tham gia đánh nhiều ván, thắng được 240.000 đồng. Khi bị bắt, G bị thu giữ 3.090.000 đồng trong người mà G khai nhận là sử dụng để đánh bạc.

Như vậy, số tiền dùng để đánh bạc của Đ, D, T1 và G là: 1.860.000 đồng (của Đ) + 610.000 đồng (của D) + 2.040.000 đồng (của T1) + 3.090.000 đồng (của G) = 7.600.000 đồng.

Sòng thứ hai gồm có:

  1. Phan Quốc T2: Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 26/02/2022, T2 đem theo 2.400.000 đồng đến nhà của H và đánh bạc cùng với Phạm Văn H, Trịnh Văn T3, Vũ Thị A. T2 tham gia đánh nhiều ván, thắng được 20.000 đồng. Khi bị bắt, T2 bị thu giữ 2.420.000 đồng trong người mà T2 khai nhận là sử dụng để đánh bạc.
  2. Vũ Thị A: Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 26/02/2022, A đem theo 1.000.000 đồng đên nhà của H và đánh bạc cùng với Phạm Văn H, Trịnh Văn T3, Phan Quốc T2. A tham gia đánh nhiều ván, thắng được 390.000 đồng. Khi bị bắt, A bị thu giữ 1.390.000 đồng trong người mà A khai nhận là sử dụng để đánh bạc.
  3. Trịnh Văn T3: Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 26/02/2022, T3 đem theo 1.300.000 đồng đến nhà của H và đánh bạc cùng với Phạm Văn H, Vũ Thị A, Phan Quốc T2. T3 tham gia đánh nhiều ván, thắng được 360.000 đồng. Khi bị bắt, T3 bị thu giữ 1.660.000 đồng trong người mà T3 khai nhận là sử dụng để đánh bạc.
  4. Phạm Văn H: Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 26/02/2022, H đi về đến nhà thì thấy Trịnh Văn T3, Vũ Thị A, Phan Quốc T2 đang ngồi chơi tại nhà mình và có 04 người Phạm Van D, Hoàng Văn Đ, Phạm Văn T1 và Trần Thanh G đang ngồi đánh bài ăn tiền. Sau đó, H, T2, T3, A rủ nhau đánh bài phỏm ăn tiền. H bỏ ra 400.000 đồng để đánh bạc cùng với Trịnh Văn T3, Vũ Thị A, Phan Quốc T2. H tham gia đánh nhiều ván, thua hết 160.000 đồng. Khi bị bắt, H bị thu giữ 240.000 đồng trong người mà H khai nhận là sử dụng để đánh bạc. Đồng thời, H khai H sử dụng số tiền xâu thu được để mua thức ăn, nước uống cho những người tham gia đánh bạc và mua bài Tây để phục vụ cho việc đánh bạc.

Như vậy, số tiền dùng để đánh bạc của H, T2, T3 và A là: 240.000 đồng (của H) + 1.660.000 đồng (của T3) + 1.390.000 đồng (của Ân) + 2.420.000 đồng (của T2) = 5.710.000 đồng.

Ngày 08/8/2023, Tòa án nhân dân huyện C đã đưa vụ án ra xét xử và ban hành Bản án số: 176/2023/HS-ST, tuyên bố Phạm Văn H phạm tội "Tổ chức đánh bạc" và "Đánh bạc" quy định tại điểm b khoản 1 Điều 322 và khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn Đ, Phạm Văn D, Phạm Văn T1, Phan Quốc T2, Vũ Thị A, Trịnh Văn T3 và Trần Thanh G phạm tội "Đánh bạc" quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Sau đó, Phạm Văn H kháng cáo kêu oan đối với tội "Tổ chức đánh bạc". Ngày 09/01/2024, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm, tuyên hủy một phần bản án sơ thẩm đối với Phạm Văn H để điều tra lại. Các quyết Đ khác của bản án sơ thẩm đối với các bị cáo còn lại đã có hiệu lực pháp luật.

* Quá trình điều tra lại:

  • - Phạm Văn H khai nhận cả nhóm 08 người tham gia đánh bạc vào ngày 26/02/2022 đều thân quen và thỉnh thoảng đánh bạc với nhau tại phía sau nhà của H từ cuối tháng 01/2022 nên vào ngày 26/01/2022 khi H về nhà nhìn thấy sòng thứ nhất đang đánh bạc tại bàn ghế đá thì không ngăn cản mà vẫn để cho những người này đánh bạc như những lần trước; đồng thời, do có 03 người gồm T2, A, T3 cũng đang ngồi chơi tại đây nên 03 người này và H rủ nhau đánh bạc sòng thứ 2. Đối với 02 lon kim loại cùng các bộ bài tây thì đã có sẵn trong khuôn viên khu đất nhà H từ trước. Đồng thời, H khai Công an xã B không lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang tại hiện trường và bản thân không ký vào Biên bản bắt người phạm tội quả tang vào ngày 26/02/2022 mà ký vào ngày 27/02/2022 tại trụ sở Công an xã B.
  • - Phạm Văn T1 khai phù hợp với lời khai của H về việc đã đến hiện trường tham gia đánh bạc nhiều lần và trở thành thói quen, việc đặt tiền xâu vào lon kim loại là do những người tham gia đánh bạc đã thống nhất từ những lần chơi trước. Số tiền này sau khi đánh bạc xong thì H lấy ra và sử dụng để mua rượu, thức ăn cho cả nhóm ăn uống cùng nhau.
  • - Trịnh Văn T3 khai phù hợp với lời khai của H và T1 về việc đã từng đánh bạc nhiều lần tại địa điêm trên và việc thống nhất bỏ tiền xâu và lon kim loại cũng như việc sau khi đánh bạc xong H là người sẽ lấy tiền xâu từ trong lon đi mua rượu, đồ ăn cho cả nhóm ăn uống cùng nhau.
  • - Trần Thanh G khai phù hợp với lời khai của H, T1 và T3 về việc đã tham gia đánh bạc tại địa điểm này trước đây, đồng thời, G khai số bài tây, lon kim loại đều là của H chuẩn bị sẵn tại đây. H là người lấy số tiền xâu trong lon kim loại sau khi đánh bạc xong, còn việc H sử dụng số tiền này với mục đích gì thì G không biết rõ, chỉ thấy sau mỗi buổi đánh bạc xong thì H đều mua rượu, đồ ăn cho cả nhóm ăn uống cùng nhau. G cho biết bản thân ký tên vào Biên bản bắt người phạm tội quả tang tại trụ sở Công an xã B nhưng các nội dung được ghi nhận trong biên bản này đều đúng sự thật.
  • - Phan Quốc T2 khai phù hợp với lời khai của H, T1, T3 và G về việc đã từng đánh bạc những lần trước tại vị trí trên. Đồng thời, T2 khai phù hợp với lời khai của G về việc các bộ bài tây bị công an thu giữ là của H. Tiền xâu bỏ vào lon kim loại thì sau khi đánh bạc xong do H lấy và đem đi mua đồ ăn, rượu cho cả nhóm ăn uống chung.
  • - Hoàng Văn Đ khai phù hợp với lời khai của H, T1, T3, G và T2 về việc đã tham gia đánh bạc ở địa điểm này nhiều lần trước đây. Tiền xâu trong lon kim loại do H lấy và sử dụng làm gì thì Đ không biết vì đánh bạc xong thì Đ ra về trước mọi người.
  • - Phạm Văn D khai phù hợp với lời khai của H, T1, T3, G, T2 và Đ về việc đã nhiều lần đến đánh bạc tại địa điểm trên. Kết thúc buổi đánh bạc, H sẽ lấy số tiền xâu trong lon kim loại để mua đồ ăn, rượu cho cả nhóm ăn uống chung, số tiền còn dư lại H dùng làm gì thì D không biết. Đồng thời, D khai bản thân ký tên vào Biên bản bắt người phạm tội quả tang tại trụ sở Công an xã B nhưng nội dung ghi trong Biên bản là đúng sự thật.
  • - Báo cáo giải trình ngày 07/11/2024 của Công an xã B xác định việc lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang được lập đúng quy định tại nơi xảy ra vụ việc địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 67/2025/HSST ngày 10/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết Đ:

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Tổ chức đánh bạc" và "Đánh bạc”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 322; khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 01 (một) năm tù về tội "Tổ chức đánh bạc" và 06 (sáu) tháng tù về tội "Đánh bạc". Tổng hợp hình phạt của cả 02 tội, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả 02 tội là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Ngoài ra, bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về phần án phí, quyền và thời hạn kháng cáo của bị cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 19/3/2025, bị cáo Phạm Văn H kháng cáo kêu oan cho rằng bản án số 67/2025/HSST ngày 10/3/2025 của Toà án nhân dân huyện C có nhiều điểm sai, không đúng sự thật.

Bị cáo cho rằng, bản thân có tham gia đánh bài Phỏm ăn thua bằng tiền là có thật nhưng chưa đủ yếu tố để xử lý hình sự. Tại hiện trường vụ án, tang vật bằng tiền Công an xã B thu giữ tại chiếu bạc có bị cáo tham gia là 4.410.000 đồng, nhưng trong biên bản bắt người phạm tội quả tang ghi là 5.710.000 đồng (thu giữ thêm 1.300.000 đồng của ông T3 tại trụ sở Công an xã B, không có mặt ông). Mặt khác, việc số tiền thu giữ 02 nơi nhưng công an xã B đã gộp chung 02 khoản thu này lại lập “Biên bản bắt người phạm tội quả tang” ghi địa điểm lập tại hiện trường vụ án thu giữ 5.710.000 đồng là không đúng. Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu tạm giữ của các đối tượng tham gia đánh bạc cụ thể là tiền dùng để đánh bạc được Công an xã B lập từ 22 giờ 50 phút ngày 26/02/2022 đến 13 giờ 25 phút ngày 27/02/2022 mới lập xong mà ghi địa điểm lập tại hiện trường vụ án, trong khi đó các đối tượng đánh bạc bị đưa về trụ sở công an xã khoảng lúc 21 giờ ngày 26/02/2022. Ngoài ra, bị cáo cho rằng lời khai của người làm chứng là do có sự mớm cung. Ngoài ra, bị cáo còn cho rằng Tòa sơ thẩm chưa làm rõ số tiền trong người của ông T3 khi bắt quả tang là bao nhiêu (360.000 đồng hay 1.660.000 đồng). Về tội tổ chức đánh bạc, bị cáo cho rằng bản thân hoàn toàn không có hành vi rủ rê, lôi kéo người khác tham gia đánh bạc nhằm mục đích trục lợi, vì những người tham gia đánh bạc tại phía sau nhà bị cáo là họ hàng hoặc hàng xóm của nhau, họ có công việc và thu nhập ổn Đ, họ không lấy tiền thắng do đánh bạc làm nguồn thu nhập, họ chỉ tham gia tụ tập đánh giải trí vài ván bài thu vài chục nghìn đồng để có cớ cùng nhau ăn nhậu. Việc đánh bạc tại hẻm nhà bị cáo là ngẫu nhiên, mọi người tụ tập uống cà phê rồi tự rủ nhau chơi đánh bạc giải trí ngay cả khi không có bị cáo ở nhà. Việc trích tiền người thắng để sử dụng mua bài, thức ăn, nước uống cùng nhau sử dụng chứ bị cáo không đưa riêng cho bị cáo chiếm hưởng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phạm Văn H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi tóm tắt nội dung, phân tích tính chất vụ án đã đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn H và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo,

NHẬN Đ CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án như biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung của các bị cáo khác, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu, biên bản xác định địa điểm đánh bạc có cơ sở kết luận: Vào ngày 26/02/2022, tại phía sau ấp A, xã B, huyện C (là khuôn viên thuộc quản lý của bị cáo Phạm Văn H), bị cáo H đồng ý cho các bị cáo khác như Hoàng Văn Đ, Phạm Văn D, Phạm Văn T1, Trần Thanh G, Phan Quốc T2, Vũ Thị A, Trịnh Văn T3,... tổ chức đánh bạc ăn thua bằng tiền tại khuôn viên nhà mình, thu tiền xâu, và cùng tham gia đánh bạc chung, số tiền thu giữ trên chiếu bạc, cụ thể sòng bạc thứ nhất là 7.600.000 đồng, sòng bạc thứ 2 là 5.710.000 đồng. Do đó, Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử bị cáo Phạm Văn H về 02 tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc” theo điểm b khoản 1 Điều 322 và khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng quy định của pháp luật.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: đơn kháng cáo của bị cáo nằm trong thời hạn luật Đ là hợp lệ.

Về nội dung kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

Thứ nhất, đối với tội tổ chức đánh bạc:

Khuôn viên phía sau ấp A, xã B, huyện C là thuộc quyền quản lý của bị cáo H. Bị cáo đồng ý cho nhiều người thực hiện hành vi đánh bạc tại khuôn viên nhà mình, cụ thể ngày 26/02/2022 bị cáo đã cho các đối tượng như Hoàng Văn Đ, Phạm Văn D, Phạm Văn T1, Trần Thanh G, Phan Quốc T2, Vũ Thị A, Trịnh Văn T3,...tham gia đánh bạc tại đây, chia thành 02 sòng, số tiền đánh bạc thu được trên mỗi sòng trên 5 triệu đồng, việc đánh bạc có thu xâu, do vậy, đã đủ yếu tố cấu thành tội tổ chức đánh bạc. Hơn nữa, việc đánh bạc tại nhà bị cáo diễn ra không phải lần đầu mà đã xảy ra nhiều lần thành thói quen (qua lời khai của các bị cáo Phạm Văn T1, Trịnh Văn T3, Trần Thanh G, và chính bị cáo tại phiên tòa hôm nay...). Bản thân bị cáo H khi về đến nhà thấy sự việc các bị cáo khác đang đánh bạc nhưng không phản đối mà bản thân bị cáo còn rủ 03 bị cáo khác là Trịnh Văn T3, Vũ Thị A, Phan Quốc T2 lập 01 sòng bạc mới để chơi đánh bài ăn tiền. Đồng thời, bị cáo còn quản lý và sử dụng số tiền xâu mà các con bạc bỏ vào lon khi thắng, sử dụng số tiền này để mua thức ăn, nước uống cho những người tham gia đánh bạc, bản thân bị cáo tại phiên tòa cũng thừa nhận điều này. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tổ chức đánh bạc và kháng cáo của bị cáo cho rằng mình không rủ rê, lôi kéo các bị cáo khác tham gia đánh bạc, và không hưởng lợi từ việc tổ chức đánh bạc là không có căn cứ.

Thứ hai, đối với tội đánh bạc:

Hội đồng xét xử xét thấy: Bản thân bị cáo thừa nhận có tham gia đánh bạc (đánh bài Phỏm) ăn thua bằng tiền. Số tiền thu giữ trên chiếu bạc theo Biên bản bắt người phạm tội quả tang, cụ thể như sau: Thu giữ của bị cáo Trịnh Văn T3 1.660.000 đồng, thu giữ của Phạm Văn H 240.000 đồng, thu giữ của Vũ Thị A là 1.390.000 đồng, thu giữ của Phan Quốc T2 là 2.420.000 đồng. Tổng là 5.710.000 đồng. Các bị cáo khác như Phan Quốc T2, Hoàng Văn Đ, Phạm Văn D...cũng thừa nhận biên bản bắt người phạm tội quả tang có nội dung hoàn toàn chính xác. Ông T3 trong quá trình điều tra lại khẳng định số tiền công an thu giữ trong người khi bắt quả tang là 1.660.000 đồng, toàn bộ dùng vào việc đánh bạc.

Việc bị cáo cho rằng Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ tài sản, tài liệu được lập không đúng quy định của pháp luật là không có căn cứ. Công an xã B khẳng định “Ngày 26/02/2022, công an xã B lập biên bản phạm tội quả tang tại hiện trường vụ án là tại nhà không số ấp 45 (ấp 4A cũ), xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh".

Ngoài ra, tại biên bản lấy lời khai các ông Trần Thiện Thanh, Phạm Văn D, Hoàng Văn Đ, Phan Quốc T2, Trần Thanh G, Trịnh Văn T3, Phạm Văn T1 (sau khi điều tra lại) thì tất cả đều trình bày như trên và khẳng định nội dung được ghi nhận trong biên bản bắt người phạm tội quả tang đều đúng sự thật và không có ai bị đe dọa, ép buộc, ép cung hay nhục hình.

Bản thân bị cáo H trước đây đã từng phục vụ trong ngành công an, bị cáo là người am hiểu pháp luật, biết rất rõ hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền là trái phép cũng như cho người khác đến địa điểm thuộc quyền quản lý của mình để đánh bạc ăn thua bằng tiền, không chỉ ngày 26/02/2022 mà còn nhiều lần trước đó là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện, thể hiện ý thức xem thường pháp luật.

Bản án Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm xét xử bị cáo 02 tội danh “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc” với mức án tổng hợp là 01 năm 06 tháng tù là đã thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo H. Do vậy, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo H, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

Từ các phân tích trên, bác toàn bộ kháng cáo kêu oan của bị cáo H.

[4] Các vấn đề khác: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ:

  1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn H. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 322; khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 01 (một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc” và 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

Phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng để nộp ngân sách Nhà nước.

  1. Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
  2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không có kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TC; (1)
  • - TAND cấp cao tại Tp.HCM (1)
  • - VKSND cấp cao tại Tp.HCM (1)
  • - VKSND Tp.HCM; (3)
  • - VKSND huyện C; (1)
  • - P.PC 53 – CA Tp.HCM; (1)
  • - Cục THADS Tp.HCM (1)
  • - Chi cục THA huyện C; (1)
  • - Bị cáo; (1)
  • - Trại tạm giam; (2)
  • - TAND huyện C; (1)
  • - Công an huyện C; (1)
  • - Sở Tư pháp; (1)
  • - Ủy ban nơi bị cáo cư trú; (1)
  • - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (21) (4)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Hoài Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 189/2025/HS-PT ngày 22/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (tổ chức đánh bạc và đánh bạc)

  • Số bản án: 189/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo tù có thời hạn về tội "Tổ chức đánh bạc" theo điểm b khoản 1 Điều 322 và tội "Đánh bạc" theo khoản 3 Điều 321 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger