|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 HƯNG YÊN Bản án số: 189/2025/ HNGĐ-ST. Ngày: 31/12/2025 “ V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HƯNG YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tân Huyền
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Minh Đón và ông Nguyễn Văn Thanh.
- - Thư ký phiên toà: Ông Lê Mạnh Hùng.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Thuỳ Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2- Hưng Yên mở phiên toà sơ thẩm xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 135/ 2025/TL -HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2025 về việc "Không công nhận vợ chồng" theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số : 26/2025/QĐXX - ST ngày 16 tháng 12 năm 2025 giữa:
Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H – Sinh năm 1982
Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường T, tỉnh Hưng Yên
Nơi ở hiện nay: FLAT2 1/F BLOCKB NO: 88 SHUN NING ROAD SHM SHUI PO – Hong Kong
Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân H1 – Sinh năm 1975
Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường T, tỉnh Hưng Yên
Người làm chứng: Anh Bùi Văn T, sinh năm 1984
Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường T, tỉnh Hưng Yên
(Tại phiên toà nguyên đơn, bị đơn và người làm chứng đều vắng mặt)
Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết tại Toà án, nguyên đơn chị Bùi Thị H trình bày:
Năm 1998 chị và anh Nguyễn Xuân H1 cưới hỏi theo phong tục địa phương và chung sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống anh chị đã phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân bất đồng về quản lý kinh tế và cách nuôi dạy con, anh chị mâu thuẫn căng thẳng. Năm 2016 chị H đã sang Hồ N làm việc và sinh sống, anh chị đã ly thân từ đó đến nay. Quá trình ly thân anh chị không cải thiện được tình cảm, chị khởi kiện yêu cầu Toà án không công nhận chị và anh H1 là vợ chồng.
Về con chung: Chị và anh H1 sinh được 02 con chung là: Nguyễn Thị C sinh năm 1999 và Nguyễn Văn P sinh năm 2004. Hiện nay 02 con đã thành niên chị không yêu cầu giải quyết về con chung.
Về tài sản, vay nợ, công sức: Chị và anh H1 tự thoả thuận, chị tự nguyện không yêu cầu giải quyết. Chị đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt
Bị đơn anh Nguyễn Xuân H1 trình bày: Anh và chị H ở cùng thôn H, xã H, thị xã M, tỉnh Hưng Yên nay là phường T, tỉnh Hưng Yên. Ngày 12/02/1998 (âm lịch) anh chị có tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục địa phương, tại thời điểm tổ chức cưới do chị H chưa đủ 18 tuổi nên anh chị không ra UBND xã để đăng ký kết hôn theo qui định của pháp luật. Sau đó chị H về chung sống cùng anh và gia đình anh tại thôn H. Cuộc sống vợ chồng không mâu thuẫn cho đến năm 2016 thì anh và chị H cùng đi xuất khẩu lao động tại Hồ N. Năm 2019 anh về nước còn chị H tiếp tục ở lại tại Hồ N. Do hạn chế hiểu biết pháp luật nên anh chị không ra UBND xã để đăng ký kết hôn. Anh và chị H ly thân nhiều năm và không cải thiện được tình cảm nên chị H có đơn khởi kiện không công nhận giữa anh và chị H là vợ chồng thì anh đồng ý.
Về con chung: Anh và chị H sinh được 02 con chung là Nguyễn Thị C sinh năm 1999 và Nguyễn Văn P sinh năm 2004, hiện nay cháu C đã lập gia đình riêng ở tại K, xã T, thành phố H, Quảng Ninh, cháu P đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan từ năm 2022 đến nay chưa về Việt Nam. Anh không yêu cầu giải quyết về con chung.
Về tài sản, vay nợ, công sức: Anh và chị H tự thoả thuận, tự nguyện không yêu cầu giải quyết. Anh đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt
Người làm chứng: Anh Bùi Văn T khai: Anh là em trai của chị H. Hiện nay chị H đang đi xuất khẩu lao động tại Flat 2 1/F Block B No.88 Shun Ning R Sham S, Hồ N. Thời gian xuất khẩu lao động khoảng hơn 10 năm. Chị H và anh H1 không đăng ký kết hôn mà chỉ tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Anh chị đã sinh được 02 con chung là cháu Nguyễn Thị C sinh năm 1999 và Nguyễn Văn P sinh năm 2004. Hiện nay cháu C đã kết hôn và sinh sống tại Quảng Ninh. Cháu P thì đang du học địa chỉ cụ thể anh không biết. Anh chị chung sống không phát sinh mâu thuẫn, tuy nhiên anh chị ly thân nhiều năm, chị H khởi kiện yêu cầu giải quyết không công nhận vợ chồng đối với anh H1 đề nghị Toà án giải quyết theo đơn của chị H. Anh đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành mở phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nhưng các đương sự đều vắng mặt nên không hòa giải được.
Tại phiên toà:
Chị Bùi Thị H, anh Nguyễn Xuân H2 đều vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Toà án thụ lý vụ án, lấy lời khai, thu thập chứng cứ, thông báo về phiên họp kiểm tra về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tiến hành mở phiên họp kiểm tra về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; biên bản hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử độc lập, Thẩm phán và Thư ký chấp hành đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 Hưng Yên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Xuân H1.
Các vấn đề khác do đương sự không yêu cầu nên không phải giải quyết.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về án phí dân sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà và trên cơ sở xem xét khách quan toàn diện các chứng cứ, ý kiến của đương sự, kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]- Về tố tụng: Nguyên đơn chị Bùi Thị H yêu cầu không công nhận vợ chồng đối với bị đơn anh Nguyễn Xuân H1 là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh H1 hiện cư trú tại phường T, tỉnh Hưng Yên nên thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hưng Yên được xác định theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội.
Tại phiên toà, vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và người làm chứng tuy nhiên họ đều có yêu cầu được xét xử vắng mặt. Vì vậy Toà án xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 228, khoản 2 Điều 229 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] -Về nội dung: Chị H và anh H1 đều xác định được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương vào năm 1998, tuy nhiên anh chị đã không đến UBND xã để đăng ký kết hôn theo qui định của pháp luật. Theo các tài liệu đang lưu giữ tại UBND phường Thượng Hồng thì chị H và anh H1 không có tên trong sổ đăng ký kết hôn qua các thời kỳ. Tuy nhiên anh chị có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương và đã có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị C sinh năm 1999 và cháu Nguyễn Văn P sinh năm 2004. UBND phường T không xác định được thời gian chị H và anh H1 chung sống với nhau tuy nhiên căn cứ lời trình bày của anh chị có đủ cơ sở xác định thời gian anh chị chung sống với nhau như vợ chồng từ khoảng năm 1998 nhưng không thực hiện đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền và đến nay cũng chưa đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày 01/01/2001 đến ngày 01/01/2003; từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng. Đồng thời khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: "Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ vợ và chồng". Chị H yêu cầu Toà án giải quyết không công nhận vợ chồng với anh H1, quá trình giải quyết vụ án xác định chị H và anh H1 hiện không sống cùng nhau, anh H1 xác định không còn tình cảm với chị H. Anh chị đều xác định không thể về chung sống cùng nhau, vì vậy Hội đồng xét xử sẽ tuyên bố không công nhận chị H và anh H1 là vợ chồng.
[3]- Về con chung: Chị H và anh H1 có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị C sinh năm 1999 và cháu Nguyễn Văn P sinh năm 2004. Hiện nay các cháu đều đã thành niên, anh chị đều tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
UBND phường T xác định tại giấy khai sinh số 109, quyển số 03 cấp ngày 13/10/1999 của cháu Nguyễn Thị C và tại giấy khai sinh số 70, quyển số 07 cấp ngày 12/7/2004 của cháu Nguyễn Văn P có sự sai sót về tên và năm sinh trong quá trình cấp giấy khai sinh giai đoạn trước đây, tuy nhiên UBND phường xác định chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Xuân H1 là bố mẹ của cháu Nguyễn Thị C và cháu Nguyễn Văn P.
[4]- Về tài sản chung, vay nợ, công sức và ruộng nông nghiệp: Chị H và anh H1 đều tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết nên các vấn đề này cũng không đặt ra để giải quyết.
[5]- Về án phí: Chị H phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên ;
Căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; khoản 4 Điều 147; Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228, khoản 2 Điều 229 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điểm 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội.
Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Xuân H1.
Về tài sản chung, vay nợ, công sức và ruộng nông nghiệp: Không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Bùi Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Đối với số tiền tạm ứng án phí anh Bùi Văn T đã nộp thay chị H theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002993 ngày 07/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên. Chị H đã nộp đủ án phí sơ thẩm dân sự.
Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký) Nguyễn Thị Tân Huyền |
Bản án số 189/2025/HNGĐ-ST ngày 31/12/2025 của Toà án nhân dân khu vực 2 Hưng Yên về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 189/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân khu vực 2 Hưng Yên
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không công nhận vợ chồng
