|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 189/2024/HSST
Ngày 28 tháng 10 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Chu Minh Nam.
Các hội thẩm nhân dân.
1. Bà Nguyễn Thị Thiệp.
2. Bà Đỗ Thị Thu Hiền.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Hiếu – Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong tham gia phiên toà: Ông Hạ Gia Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 28/10/2024. Tại TAND huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 191/2024/TLST-HS, ngày 11/10/2024. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 183/2024/QĐXXST-HS ngày 14/10/2024 đối với bị cáo.
Lưu Văn T, sinh năm 1981; Nơi ĐKHKTT: thôn Y, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lưu Văn P (đã chết); Và bà Đỗ Thị G (đã chết); Gia đình có 07 anh, chị em, bản thân là thứ bẩy; Có vợ là Trần Thị L, sinh năm 1983; Có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2017; Tiền án; Không; Tiền sự: Tại quyết định xử phạt hành chính số 06 ngày 26/02/2024 của Trưởng Công an xã H, T bị xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 2.000.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã số 32/QĐ-XPHC ngày 10/3/2024 của Chủ tịch UBND xã H, Thêm bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn 03 tháng. Ngày 19/6/2024 Thêm chấp hành xong; Nhân thân: Tại Quyết định số 03 ngày 18/5/2018 của TAND huyện Yên Phong, T bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc với thời hạn 24 tháng. Ngày 25/4/2020 chấp hành xong.
Tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/8/2024 đến nay có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B.
Người bị hại: Chị Nguyễn Thị O, sinh năm 1988 (vắng mặt).
Trú tại: thôn A, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
Người tham gia tố tụng khác.
1. Cán bộ hỗ trợ tư pháp Công an huyện Y: Ông Trần Văn Đ.
2. Kỹ thuật viên vi tính: Ông Nguyễn Đức Đ1.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau.
Lưu Văn T là đối tượng không có công ăn việc làm ổn định và sống lang thang. Do cần tiền tiêu sài cá nhân nên khoảng 10 giờ 20 phút ngày 01/8/2024, T đi bộ tại chợ chiều thôn Q, xã V để tìm tài sản trộm cắp. Khi T đi lang thang trong chợ thì phát hiện thấy chị Nguyễn Thị O điều khiển xe máy nhãn hiệu honda wave alpha màu xanh BKS 36H8-2752 chở hoa quả đến chợ để bán. Sau đó chị O bê hoa quả từ trên xe xuống quầy hàng rồi dắt xe vào dựng trong một ngõ nhỏ gần đó rồi quay về quầy bán hoa quả. Lợi dụng chị O đang mải xếp hoa quả không chú ý đến chiếc xe Thêm đi qua lưng chị O1 rồi đến vị trí chiếc xe. Thêm phát hiện thấy chiếc xe vẫn chưa tắt máy, đèn báo của xe vẫn sáng nên T dùng tay trái cầm tay lái, tay phải cầm vào đuôi xe rồi quay ngược xe lại. Sau đó T ngồi lên xe, nổ máy và điều khiển xe đi qua quầy bán hoa quả của chị O. Chị O nhìn thấy T trộm cắp xe máy của mình thì hô to “trộm, trộm” và dùng tay giữ xe lại. Thấy bị phát hiện T để chiếc xe lại và bỏ chạy, đúng lúc này lực lượng tuần tra Công an xã V đi đến phát hiện và bắt giữ T.
Ngày 01/8/2024 chị O làm đơn trình báo gửi Công an huyện Y.
Tại Kết luận định giá tài sản số 60/KL-HĐĐGTS ngày 01/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Y kết luận:
- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu honda wave alpha màu xanh, BKS 36H8-2752, SK HC08062Y427133, SM HC08E043173 đã qua sử dụng tại thời điểm định giá là: 3.000.000 đồng.
Với nội dung trên tại bản cáo trạng số 190 ngày 11/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố Lưu Văn T về tội " Trộm cắp tài sản " theo khoản 1 Điều 173 BLHS.
Tại phiên toà hôm nay bị cáo Lưu Văn T khai nhận ngày 01/8/2024 tại khu vực chợ chiều thôn Q, xã V bị cáo đã lợi dụng sơ hở để trộm cắp của chị Nguyễn Thị O 01 chiếc xe máy nhẫn hiệu honda wave alpha màu xanh thì bị O phát hiện hô hoán người dân bắt quả tang cùng tang vật. Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “ Trộm cắp tài sản ” là đúng.
Trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích đánh giá chứng cứ, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cho xã hội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã kết luận về vụ án và giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị HĐXX.
Tuyên bố bị cáo Lưu Văn T phạm tội “ Trộm cắp tài sản ”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo từ 10 đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/8/2024.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét do tài sản đã được thu hồi trả cho người bị hại.
Về vật chứng của vụ án: Không.
Lưu theo hồ sơ vụ án 01 đĩa CD.
Bị cáo nhận tội, nhất trí với phần kết luận và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau.
[ 1 ] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[ 2 ] Về nội dung vụ án: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà hôm nay là có căn cứ và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật đã thu giữ, kết luận định giá tài sản, lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ được công khai và tranh tụng tại phiên tòa thấy đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Lưu Văn T phạm tội " Trộm cắp tài sản ". Tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
[ 3 ] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp tới quyền sử hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo chẳng những gây thiệt hại về vật chất cho chị O mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương, tạo tâm lý hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân. Xét thấy cần xử lý nghiêm bị cáo theo quy định của Bộ luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[ 4 ] Xét nhân thân và thái độ của bị cáo HĐXX nhận thấy. Bị cáo là đối tượng có nhân thân xấy, năm 2018 và 2024 đã 03 lần bị cấp có thẩm quyền xử phạt hành chính nhưng bị cáo vẫn không lấy đó làm bài học để cảnh tỉnh bản thân. Với bản chất thích ăn chơi, lười lao động và để có tiền nhằm thỏa mãn cho những nhu cầu ích kỷ của bản thân ngày 01/8/2024 bị cáo đã lợi dụng sơ hở để trộm cắp của chị Nguyễn Thị O 01 chiếc xe máy nhẫn hiệu honda wave alpha màu xanh trị giá 3.000.000đ thì bị bắt quả tang. Tuy lần phạm tội này đối với bị cáo không bị coi là tái phạm nhưng qua đó thấy được ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Xét thấy cần phải có một mức hình phạt nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt cho xã hội. Song khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt vì xét thấy sau khi phạm tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo vì xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có thu nhập và tài sản riêng.
[ 5 ] Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét do tài sản đã được thu hồi trả cho người bị hại và người bị hại không yêu cầu.
[ 6 ] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Lưu theo hồ sơ vụ án 01 đĩa CD.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Lưu Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản".
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS, Điều 329 BLTTHS xử phạt.
Lưu Văn T 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/8/2024.
Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 28/10/2024.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về trách nhiện dân sự: Không đặt ra xem xét do tài sản đã được thu hồi trả cho người bị hại và người bị hại không yêu cầu.
Về án phí: Áp dụng điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án lệ phí.
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả bản án hoặc ngày niêm yết kết quả bản án.
|
CÁC HỘI THẨM |
T/P - Chủ toạ phiên toà |
|
Nguyễn Thị Thiệp – Đỗ Thị Thu Hiền |
Chu Minh Nam |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Chu Minh Nam |
Bản án số 189/2024/HSST ngày 28/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 189/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lưu Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản"
