|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 189/2024/HS-ST
Ngày: 27/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC - TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Trang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Thành Tấn
Ông Nguyễn Ngọc Tài
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thuỷ - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông Lê Hữu Nghị - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 179/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 183/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Ngô Thị Yến N, sinh ngày 18/9/1999 tại: C, An Giang; Nơi ĐKTT: Ấp R, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở: Ấp R, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hoá: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Thanh P, sinh năm 1971 và bà Cù Thị H, sinh năm 1973; Chồng Nguyễn Phú S, sinh năm 1996 (Đã ly hôn); Con có 02 người, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 23 giờ, ngày 22/11/2023, do cần sử dụng trái phép chất ma túy nên Ngô Thị Yến N đi taxi đến phòng trọ T, thuộc ấp R, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang gặp N1 (chưa rõ nhân thân) hỏi mua ma túy với giá 1.5000.000 đồng, N1 bán cho N 01 bịch ma túy. Sau khi mua ma túy, N mang về phòng trọ số 107 của N thuê ở tại nhà nghỉ H1, thuộc ấp R, xã H để dành sử dụng. Đến khoảng 11 giờ, ngày 23/11/2023, chồng của N là Nguyễn Phú S (đã ly hôn) đến phòng trọ
của N, S dùng dao đe dọa N yêu cầu N chia ma túy thành 12 bịch để dành sử dụng, nên N lấy bịch ma túy ra chia làm 11 bịch ma túy nhỏ và trong bịch còn lại số ít ma túy, tổng cộng là 12 bịch, N để 12 bịch ma túy vào 01 hộp bằng nhựa hình trụ màu vàng rồi để trên bàn. Sau khi chia ma túy xong, N và S cự cải nên N để ma túy trên bàn rồi bỏ đi ra ngoài, sau đó S lấy ma túy để trên niệm. Sau khi đi ra ngoài, N gọi điện thoại đến Công an xã H trình báo sự việc. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Công an xã H đến kiểm tra, phát hiện ma túy trên nệm nên báo tin Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố P đến thu giữ 12 bịch ma túy và niêm phong. Đến ngày 22/5/2024, N đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố P đầu thú. Ngày 01/7/2024, Ngô Thị Yến N bị khởi tố, cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra.
* Tang vật thu giữ:
- - 09 bịch nylon màu trắng, được hàn kín kích thước khoảng 01cm x 2,7cm, tất cả bên trong đều có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất;
- - 01 bịch nylon màu trắng, được hàn kín, kích thước khoảng 0,9cm x 2,7cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất;
- - 01 bịch nylon màu trắng được hàn kín, kích thước khoảng 01cm x 3,1cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất;
- - 01 bịch nylon màu trắng được hàn kín, kích thước khoảng 3,9cm x 4,3cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất;
- - 01 cây nỏ bằng thủy tinh, đã qua sử dụng;
- - 01 chai bằng nhựa đã qua sử dụng;
- - 01 hộp nhựa hình trụ có nắp đậy màu vàng nhạt, cao 1,8cm, đường kính 04cm, đã qua sử dụng.
* Tại bản kết luận giám định số 1222/KL-KTHS ngày 01/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh K kết luận: Các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất, chứa trong 12 bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 1,6715 gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ – CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ”
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định số 1222/KL-KTHS ngày 01/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh K.
Bản cáo trạng số: 172/CT-VKSPQ ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố bị cáo Ngô Thị Yến N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và đề nghị Hội đồng xét xử
căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, n khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy ma túy còn lại sau giám định, 01 cây nỏ thuỷ tinh, 01 chai nhựa và 01 hộp nhựa đã qua sử dụng.
Đối với đối tượng N1 (chưa rõ nhân thân) bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào bắt được xử lý sau.
Đối với Nguyễn Phú S không tham gia sử dụng ma tuý nên không xử lý.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì đối với bản cáo trạng của Viện kiểm sát, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng đã công bố và không tranh luận gì đối với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc.
Lời nói sau cùng của bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật thu giữ được trong vụ án, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 23 giờ, ngày 22/11/2023, do cần sử dụng trái phép chất ma túy nên bị cáo mua 01 bịch ma túy với giá 1.5000.000 đồng của N1 (chưa xác định được nhân thân) mang về phòng trọ số 107 do bị cáo thuê ở tại nhà nghỉ H1, thuộc ấp R, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang chia ra làm 12 bịch ma túy để sử dụng. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Công an xã H đến kiểm tra phát hiện nên báo tin cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố P đến thu giữ 12 bịch ma túy với khối lượng 1,6715 gam ma túy, loại Methamphetamine của bị cáo tàng trữ nhằm mục đích để sử dụng. Do đó, cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố bị cáo về tội
“Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.
[3]. Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy nhưng vì để thỏa mãn nhu cầu bản thân bị cáo bất chấp pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Trong khi, ma túy là chất gây nghiện, gây ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng con người, gây ảnh hưởng tình hình trật tự tại địa phương, là nguyên nhân dẫn đến những tệ nạn xã hội và các loại tội phạm nguy hiểm khác.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội đối với loại tội phạm này.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo quy định định tại Điều 52 BLHS.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa và quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Bị cáo đang mang thai và đã đầu thú về hành vi phạm tội nên được xem xét áp dụng điểm s, n khoản 1, 2 Điều 51 BLHS khi Hội đồng xét xử quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[5]. Về quan điểm của Viện kiểm sát: Đề nghị của vị đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc về tội danh, mức hình phạt, biện pháp tư pháp đối với bị cáo là có căn cứ nên chấp nhận.
[6]. Về các vấn đề khác:
- - Về biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, 01 cây nỏ thuỷ tinh, 01 chai nhựa và 01 hộp nhựa đã qua sử dụng do đây là dụng cụ bị cáo dùng để sử dụng và chứa ma tuý.
- - Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- - Đối với đối tượng N1 (chưa rõ nhân thân) bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào bắt được xử lý sau.
- Đối với Nguyễn Phú S không tham gia sử dụng ma tuý nên không xử lý.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, n khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Ngô Thị Yến N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Xử phạt: Bị cáo Ngô Thị Yến N 01 (một) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án.
-
Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 1.6178 gam cùng bao gói đựng mẫu, 01 cây nỏ thuỷ tinh, 01 chai nhựa và 01 hộp nhựa hộp nhựa hình trụ có nắp đậy màu vàng nhạt, cao 1,8cm, đường kính 04cm, đã qua sử dụng đã qua sử dụng.
(Theo Quyết định chuyển giao vật chứng số 163/QĐ-VKSPQ ngày 10/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc).
-
Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Trang |
5
Bản án số 189/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC - TỈNH KIÊN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 189/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC - TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tàng trữ ma túy
