Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 189/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 14-6-2024

V/v tranh chấp Hôn nhân và

Gia đình”.

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Đăng

Ông Trần Mai Khanh

Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tấn Hoàng - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nam - Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án thụ lý số 431/2023/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 240/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1995; Địa chỉ cư trú: Xóm H, xã P, huyện N. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Đình H, sinh năm 1995; Địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: K, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An.

Hiện đang cư trú tại: Đài Loan. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

1. Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, chị Nguyễn Thị S trình bày:

Chị S và anh Nguyễn Đình H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An vào ngày 09/10/2018. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một năm thì phát sinh mâu thuẫn và anh H đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Cuối năm 2020 chị H cũng sang Đài Loan, hai vợ chồng sống chung một thời gian thì ly thân. Do vợ chồng không còn liên lạc với nhau nên chị S không biết địa chỉ cụ thể của anh H tại Đài Loan. Do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ngày 11/10/2023, chị S về nước và đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh H.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Đình Đ, sinh ngày 16/10/2018. Nếu ly hôn chị S đề nghị Tòa án giao con chung cho chị S trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị S không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về phía anh Nguyễn Đình H: Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã gửi các văn bản tố tụng, thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu anh Nguyễn Đình H có quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án, gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử cho anh H theo thủ tục niêm yết công khai theo quy định của pháp luật nhưng hiện tại anh Nguyễn Đình H vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến gì. Theo trình bày của bà Phan Thị S1 (mẹ của anh H) thì anh H hiện đang lao động ở Đài Loan, có điện thoại về cho gia đình nhưng không nói rõ địa chỉ cụ thể của anh H; anh H đã biết việc chị S làm đơn ly hôn anh tại Tòa án, nhưng anh H không có ý kiến gì. Đến ngày xét xử vụ án anh H không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu quan điểm:

- Về thẩm quyền: Anh H đang ở Đài Loan nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

- Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Trong quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, theo bà Phan Thị S1 (mẹ của anh H) cung cấp thông tin hiện nay anh H đang đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan, mặc dù không biết nơi cư trú cụ thể, nhưng anh H thường xuyên gọi điện thoại về cho gia đình; anh H đã biết được việc chị S xin ly hôn và không có ý kiến gì. Việc anh H vắng mặt được xác định cố tình giấu địa chỉ, do đó đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định pháp luật và xử cho chị S được ly hôn với anh H.

- Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Đình Đ, sinh ngày 16/10/2018 cho chị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; anh H có quyền yêu cầu thay đổi nuôi con theo quy định.

- Về cấp dưỡng nuôi con do chị Nguyễn Thị S không yêu cầu, anh Nguyễn Đình H chưa có ý kiến nên chưa xem xét.

- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự chưa yêu cầu nên dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.

- Về án phí: Chị S phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Chị S trình bày anh H đang ở Đài Loan nhưng không biết địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành xác minh tại người thân của anh H là bà Phan Thị S1 thì được cung cấp thông tin hiện nay anh H đang ở Đài Loan, mặc dù không biết nơi cư trú cụ thể, nhưng anh H thường xuyên gọi điện cho gia đình. Ngày 31/01/2024, Cục Q có Công văn số 2481/QLXNC-P3 cung cấp thông tin anh Nguyễn Đình H xuất cảnh ngày 06/01/2029, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Do anh H trước khi xuất cảnh có địa chỉ cuối cùng tại tỉnh Nghệ An và hiện nay đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, bà Phan Thị S1 (mẹ của anh H) cung cấp hiện nay anh H đang ở Đài Loan nhưng không biết địa chỉ cụ thể; anh H vẫn gọi điện thoại về cho gia đình và đã biết được chị S khởi kiện yêu cầu ly hôn tại Tòa án nhưng anh H không có ý kiến gì. Như vậy, anh H đã biết được chị S yêu câu ly hôn nhưng vẫn không cung cấp địa chỉ và vắng mặt tại phiên tòa là thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo. Vì vậy, căn cứ Điều 207, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Chị S vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên nội dung khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Đình H. Xét thấy, chị Nguyễn Thị S, anh Nguyễn Đình H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì mâu thuẫn do quan điểm sống khác nhau. Hiện chị S đang ở Việt Nam, anh H ở nước ngoài, không thường xuyên liên lạc nên tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, giải quyết cho chị Nguyễn Thị S được ly hôn anh Nguyễn Đình H là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[3] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Đình Đ, sinh ngày 16/10/2018. Hiện nay, anh H đang ở nước ngoài không có điều kiện trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Chị S có nguyện vọng được nuôi con chung. Vì vậy, giao con chung Nguyễn Đình Đ cho chị Nguyễn Thị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với các quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[4] Về cấp dưỡng: Chị Nguyễn Thị S chưa yêu cầu, anh Nguyễn Đình H chưa có ý kiến nên Hội đồng xét xử chưa xem xét, giải quyết.

[5] Tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị S không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh Nguyễn Đình H vắng mặt chưa có ý kiến nên dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.

[6] Về án phí: Chị Nguyễn Thị S phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 122, 123, 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 37; Điều 40; Điều 147; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị S được ly hôn với anh Nguyễn Đình H.
  2. Về nuôi con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Giao con chung Nguyễn Đình Đ, sinh ngày 16/10/2018 cho chị Nguyễn Thị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

    Chị Nguyễn Thị S chưa yêu cầu anh Nguyễn Đình H cấp dưỡng nuôi con. Vì quyền lợi của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị S phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001395 ngày 05 tháng 12 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Chị S đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị S vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Anh Nguyễn Đình H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND P. N, TX C;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Hoàng Ngọc Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 189/2024/HNGĐ-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 189/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị S xin ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger