|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 189/2024/DS-PT Ngày 08-11-2024 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Ngô Đê |
| Các Thẩm phán: | Bà Huỳnh Ái Loan |
| Bà Ngô Thị Kim Châu |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Trần Hương Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai theo hình thức trực tuyến tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh và điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân huyện C vụ án dân sự thụ lý số 202/2024/TLPT-DS, ngày 17 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án sơ thẩm số 37/2024/DS-ST, ngày 26-6-2024 của Tòa án nhân dân huyện C bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 119/2024/QĐPT-DS, ngày 25 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Bà Thạch Thị P, sinh năm 1965 (có mặt)
- Ông Thạch P1, sinh năm 1967 (có mặt)
Cùng cư trú tại ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Kim Thị Mỹ H, là Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T (có mặt).
- Bị đơn: Ông Thạch S, sinh năm 1959; cư trú tại ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Thạch Thị Sol V, sinh năm 1994 (có mặt)
- Anh Thạch T, sinh năm 2002 (có mặt)
- Bà Kim Thị K, sinh năm 1967 (vắng mặt)
- Chị Thạch Thị Chanh Đ, sinh năm 1990 (vắng mặt)
- Chị Thạch Thị Kim N, sinh năm 1999 (vắng mặt)
Cùng cư trú tại ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Người đại diện hợp pháp của bà K, chị Chanh Đ và chị N: Ông Thạch S, sinh năm 1959; cư trú tại ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh “Theo văn bản ủy quyền ngày 01/11/2024” (có mặt).
- Người phiên dịch: Ông Thạch H1, công tác tại Bảo tàng dân tộc T2.
- Người kháng cáo: Bà Thạch Thị P và ông Thạch P1 là nguyên đơn.
Ngoài ra, còn có ông Trần Minh T1, Thư ký Tòa án nhân dân huyện C tham gia hỗ trợ tổ chức phiên tòa tại điểm cầu thành phần.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 01 tháng 02 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, các nguyên đơn bà Thạch Thị P và ông Thạch P1 trình bày: Nguồn gốc đất, có diện tích 4.060m², thửa số 947, tờ bản đồ số 6, loại đất T-LNK, tọa lạc tại ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh, là của bà nội bà P và ông P1 tên cụ Thạch Thị X (chết năm 1999) để lại cho cha bà P và ông P1 (Cụ Thạch B chết năm 2020). Năm 1987, cụ Thạch C là cha của ông Thạch S hỏi xin cụ B một phần đất khoảng 100m² để cho ông S làm nhà ở. Lúc đó, hai bên chỉ trao đổi miệng, không làm giấy tờ và không có đo đất. Đến năm 1995, cụ B tiến hành kê khai, đăng ký đất nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng. Đến năm 2021, ông S tháo dỡ căn nhà cũ và xây dựng lại căn nhà mới và mở rộng thêm diện tích đất 1.200m². Vì vậy, bà P và ông P1 làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông S hoàn trả giá trị diện tích đất 1.200m² nằm trong 4.060m², thửa số 947, tờ bản đồ số 6, loại đất T-LNK, tọa lạc tại ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh, cho bà P và ông P1.
Theo bị đơn ông Thạch S trình bày: Nguồn gốc đất mà bà P và ông P1 tranh chấp, là của bà nội ông tên cố Thạch Thị S1 nhận sang nhượng của người tên Thạch Thị M vào năm 1926. Sau đó, cố S1 giao toàn bộ diện tích 4.060m² này cho cụ Thạch C (Cha ông Sần) quản lý, sử dụng. Cụ C phân chia đất cho chị ruột của cụ C tên cụ Thạch Thị X (Mẹ cụ B, bà nội của bà P và ông P1) 01 phần khoảng 1.000m². Phần diện tích đất còn lại, cụ C tiếp tục phân chia cho các con, gồm có ông và chị, em của ông để xây nhà ở từ năm 1986. Đến năm 2005 và năm 2021, ông xây dựng lại căn nhà và sửa chữa lại một phần căn nhà cũ, thì bà P và ông P1 không ngăn cản hay tranh chấp. Nay, ông không đồng ý theo yêu cầu của bà P và ông P1. Đồng thời, ông yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận cho ông được quyền sử dụng đất, diện tích theo hiện trạng là 1.185,3m², thuộc một phần thửa số 947, tờ bản đồ số 6, loại đất T-LNK, tọa lạc tại ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn gồm: Bà Kim Thị K, chị Thạch Thị Chanh Đ và chị Thạch Thị Kim N đều có ý kiến và yêu cầu như bị đơn ông S.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía các nguyên đơn đều có ý kiến và yêu cầu như các nguyên đơn.
Tại bản án sơ thẩm số 37/2024/DS-ST, ngày 26-6-2024 của Tòa án nhân dân huyện C đã quyết định:
Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 95, Điều 99, Điều 100, Điều 166, Điều 167 và Điều 170 Luật Đất đai năm 2013; Điều 12, Điều 14 và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn bà Thạch Thị P và ông Thạch P1 về việc yêu cầu bị đơn ông Thạch S hoàn trả giá trị diện tích đất 1.185,3m², thuộc một phần thửa số 947, tờ bản đồ số 6, loại đất ONT-CLN, tọa lạc tại ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Chấp nhận yêu cầu của bị đơn ông Thạch S về việc yêu cầu công nhận diện tích đất 1.185,3m², thuộc một phần thửa số 947, tờ bản đồ số 6, loại đất ONT-CLN, tọa lạc tại ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Công nhận cho ông Thạch S được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng diện tích đất 1.185,3m², thuộc một phần thửa số 947, tờ bản đồ số 6, loại đất ONT-CLN, tọa lạc tại ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh và tài sản gắn liền với diện tích đất. Diện tích đất 1.185,3m² có tứ cận và kích thước như sau:
- - Hướng Đông giáp phần đất còn lại thửa số 947, kích thước 23,7 mét;
- - Hướng Tây giáp đường H, kích thước 21 mét;
- - Hướng Nam giáp phần đất còn lại thửa số 947, kích thước 28,4 mét + 25,6 mét;
- - Hướng Bắc giáp thửa số 4147 và thửa số 4149, kích thước 47,6 mét.
- Chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Thạch P1 về yêu cầu công nhận diện tích đất 611m², thuộc một phần thửa số 947, tờ bản đồ số 6, loại đất ONT-CLN, tọa lạc tại ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Công nhận cho ông Thạch P1 được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng diện tích đất 611m², thuộc một phần thửa số 947, tờ bản đồ số 6, loại đất ONT-CLN, tọa lạc tại ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh và tài sản gắn liền với diện tích đất. Diện tích đất 611m² gồm phần A là 548,2m², phần B là 48,6m² và phần C là 14,2m², có tứ cận theo sơ đồ khu đất kèm theo công văn số 123/CNHCN- KTĐC, ngày 25/7/2023 và sơ đồ khu đất kèm theo công văn số 224/CNHCN-KTĐC, ngày 19/12/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện C.
- Chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thạch Thị P về việc yêu cầu công nhận diện tích đất 597,7m², thuộc một phần thửa số 947, tờ bản đồ số 6, loại đất ONT-CLN, tọa lạc tại ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Công nhận cho bà Thạch Thị P được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng diện tích đất 597,7m², thuộc một phần thửa số 947, tờ bản đồ số 6, loại đất ONT-CLN, tọa lạc tại ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh và tài sản gắn liền với đất. Diện tích đất 597,7m², có tứ cận theo sơ đồ khu đất kèm theo công văn số 224/CNHCN-KTĐC, ngày 19/12/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện C.
- Ông Thạch S, ông Thạch P1, bà Thạch Thị P được quyền đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí định giá tài sản và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 04 tháng 7 năm 2024, các nguyên đơn bà Thạch Thị P và ông Thạch P1 cùng làm đơn kháng cáo, yêu cầu Tòa án phúc thẩm xét xử buộc ông Thạch S hoàn trả giá trị diện tích đất 1.185,3m² cho bà P và ông P1. Đồng thời, không buộc bà P và ông P1 chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản bằng 4.961.200 đồng.
Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nguyên đơn: Các nguyên đơn bà P và ông P1 trình bày, nguồn gốc đất là của bà nội bà P và ông P1 để lại. Đến năm 1986, cha ông S hỏi cha bà P và ông P1 mượn một phần đất có diện tích 100m2 để cho ông S xây cất nhà bán thuốc tây. Đến năm 1995, cha của bà P và ông P1 có kê khai, đăng ký đất; đồng thời, bà P và ông P1 cung cấp cho Tòa án tờ xác nhận của những người sinh sống ở gần diện tích đất tranh chấp về quá trình sử dụng đất của cha bà P và ông P1. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà P và ông P1, sửa bản án sơ thẩm, buộc ông S có nghĩa vụ hoàn trả giá trị diện tích đất 1.185,3m² cho bà P và ông P1.
Ý kiến của Kiểm sát viên: Về tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tiến hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Bà P và ông P1 cho rằng nguồn gốc đất là của bà nội bà P và ông P1 (Của cụ X) để lại, nhưng không có giấy tờ chứng minh. Ngược lại, ông S cung cấp được giấy tờ thể hiện nguồn gốc đất là của mẹ cụ X và cụ C để lại cho cụ X và cụ C. Cụ X và cụ C đã nhận đất sử dụng làm nhà ở, đến năm 1982 cụ C tiến hành kê khai, đăng ký đất trong tư liệu địa chính. Còn việc cụ B là cha bà P và ông P1 kê khai, đăng ký đất theo tư liệu năm 1995, không có hồ sơ chỉnh lý biến động đất đai từ cụ C sang qua cụ B. Đồng thời, bà P và ông P1 không cung cấp được giấy tờ để chứng minh cụ B cho cụ C mượn đất, nên Tòa án sơ thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà P và ông P1 là có căn cứ. Kháng cáo của bà P ông P1 không có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm tuyên không rõ ràng về kích thước diện tích đất nên cần sửa phần này của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các nguyên đơn không rút đơn khởi kiện và không rút đơn kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Qua các chứng cứ có trong hồ sơ, lời trình bày tranh tụng của các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử thấy rằng:
- Về thủ tục tố tụng: Bản án gốc, Bản án chính và Biên bản nghị án đều thể hiện, các Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử sơ thẩm vụ án là ông Trương Văn Mên và ông Lê Văn Đáng. Nhưng Biên bản phiên tòa sơ thẩm, thì ghi các Hội thẩm nhân dân ông Nguyễn Hoàng N1 và ông Huỳnh Văn Đ1 (BL 207), là khác nhau về thành phần Hội thẩm nhân dân. Tuy nhiên, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Thư ký phiên tòa đã có văn bản giải trình về sự khác nhau, do sơ suất trong khâu đánh máy và kiểm tra biên bản phiên tòa dẫn đến sai sót về thành phần Hội thẩm nhân dân trong biên bản phiên tòa sơ thẩm; đồng thời, xác định các Hội thâm nhân dân tham gia xét xử sơ thẩm vụ án là ông Trương Văn M1 và ông Lê Văn Đ2, đúng với Bản án và Biên bản nghị án. Vì vậy, không cần thiết hủy bản án sơ thẩm mà chỉ nhận định để Tòa án sơ thẩm rút kinh nghiệm là đủ.
- Về nội dung vụ án: Bà Thạch Thị P và ông Thạch P1 làm đơn khởi kiện cho rằng, nguồn gốc đất có diện tích 4.060m², thửa số 947, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh là của cụ Thạch B (Cha bà P và ông P1). Vì hoàn cảnh kinh tế gia đình cụ B gặp khó khăn, đi làm ăn nơi khác nên vào năm 2021 ông Thạch S đến lấn, chiếm để xây dựng nhà ở và trực tiếp sử dụng diện tích đất khoảng 1.200m². Do cụ B đã chết, bà P và ông P1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông S có nghĩa vụ thanh toán giá trị đất 1.200m² cho bà P và ông P1.
- Khi nộp đơn khởi kiện tại Tòa án sơ thẩm, bà P và ông P1 có nộp kèm theo “Phiếu cung cấp thông tin” và “Danh sách đăng ký đất đai” thể hiện: Cụ B có kê khai, đăng ký đất năm 1995 (BL 17, 19). Tuy nhiên, tại bản tự khai ngày 24/6/2023, bà P và ông P1 đều khai “Nguồn gốc đất là của mẹ ruột cụ Thạch Thị X và cụ Thạch C để lại. Lúc hai chị em cụ X và cụ C còn sống, mỗi người sử dụng khoảng 2.000m² đất. Sau khi cụ X chết, thì diện tích đất giao lại cho cụ Thạch B quản lý, sử dụng. Đến năm 1987, cụ C là cha ruột của ông S đến hỏi cụ B cho mượn một phần đất khoảng 100m² cho ông S cất nhà tre, lá để bán thuốc Tây. Đến năm 2021, ông S xây dựng lại căn nhà và mở rộng thêm diện tích đất để sử dụng khoảng 1.200m²,...” (BL 45, 46). Như vậy, giữa nội dung đơn khởi kiện của bà P và ông P1 mâu thuẫn với nội dung bản tự khai của bà P và ông P1 về nguồn gốc đất.
- Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án sơ thẩm, ông S cho rằng: Nguồn gốc đất, có diện tích 4.060m², thửa số 947, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh, là của bà nội ông S (Cố Thạch Thị S1) nhận chuyển nhượng từ người tên Thạch Thị M vào năm 1926. Sau đó, cố S1 phân chia đất cho các con gồm cụ X (Bà nội bà P và ông P1) và cụ C (Cha ông Sần). Phần diện tích đất cụ C được chia, cụ C tiếp tục phân chia cho con gồm ông S và chị em ông S mỗi người một phần. Ông S đã sử dụng đất, xây dựng nhà ở từ năm 1986 cho đền N2 (BL 49). Ngoài lời khai, ông S còn cung cấp cho Tòa án sơ thẩm “Tờ bán đất giồng”, có nội dung “Người bán Thạch Thị M và các con chiết trong sở giồng số họa đồ 10 để bán đứt cho Thạch Thị S1 ở làng L, số bạc hiện là hai chục đồng...” (BL 57, 57B).
- Nguyên đơn bà P và ông P1 với bị đơn ông S đều có lời khai thống nhất nhau về quan hệ huyết thống giữa cụ X và cụ C là chị em ruột. Cụ X là mẹ của cụ B, là bà nội của bà P và ông P1; cụ C là cha của ông S. Như vậy, có đủ cơ sở xác định nguồn gốc đất có diện tích 4.060m², thửa số 947, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh, là của mẹ cụ X và cụ C. Mẹ cụ X và cụ C đã phân chia diện tích đất này cho cụ X và cụ C; cụ X và cụ C đã nhận phần đất được chia, quản lý và sử dụng. Mặt khác, theo hiện trạng thực tế trên diện tích 4.060m², thửa số 947, tờ bản đồ số 06, có căn nhà bà P, căn nhà ông P1, căn nhà ông S, căn nhà bà S2 và căn nhà anh Sê R.
- Nguyên đơn bà P và ông P1 không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh cụ C (Cha ông S) mượn một phần đất của cụ B 100m² để cho ông S làm nhà ở. Ngược lại, theo tư liệu địa chính năm 1983 thì cụ C (Cha ông Sần) là người đứng tên kê khai, đăng ký trong Sổ mục kê ruộng đất và Sổ đăng ký ruộng đất (Sổ 5b), diện tích đất 5.000m², thửa số 561 (BL 135, 138, 139). Còn cụ X và cụ B (Bà nội và cha bà P và ông P1), thì không tiến hành kê khai, đăng ký đất đai theo tư liệu địa chính năm 1983. Đến năm 1995, cụ B mới tiến hành kê khai, đăng ký đất đai, diện tích 4.060m², thửa số 947, tờ bản đồ số 06, nhưng không có hồ sơ chỉnh lý biến động từ cụ C sang qua cụ B. Cụ B chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai. Theo nội dung Công văn số 46/CNHCN, ngày 04/4/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện C “Đối chiếu tư liệu 1995 và tư liệu 1983, thửa số 947 nằm trên một phần thửa số 561 của tư liệu năm 1983" (BL 133). Như vậy, cụ B đứng tên kê khai, đăng ký đất vào năm 1995 là không chính xác và không phải là căn cứ để xác định cụ B là chủ sử dụng đất hợp pháp. Do đó, Tòa án sơ thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà P và ông P1 là có căn cứ. Bà P và ông P1 kháng cáo yêu cầu Tòa án phúc thẩm xét xử buộc ông S hoàn trả giá trị diện tích đất 1.185,3m² cho bà P và ông P1 là không có cơ sở chấp nhận.
- Ngoài ra, bà P và ông P1 còn kháng cáo không đồng ý chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản. Tuy nhiên, bà P và ông P1 là người làm đơn yêu cầu Tòa án sơ thẩm ra quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản (BL 65, 66, 67, 68). Theo khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định “Đương sự phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận”; khoản 1 Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định “Đương sự phải chịu chi phí định giá tài sản nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận”. Tòa án sơ thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà P và ông P1, nên buộc bà P và ông P1 phải chịu toàn bộ số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản bằng 4.961.200 đồng (Bốn triệu chín trăm sáu mươi mốt nghìn hai trăm đồng), là đúng pháp luật. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận phần kháng cáo này của bà P và ông P1.
- Tuy nhiên, bản án sơ thẩm tuyên diện tích đất công nhận cho ông S ở hướng Bắc giáp thửa số 4147 và thửa số 4149, là không đúng với sơ đồ khu đất, vì hướng Bắc của diện tích đất 1.185,3m² không giáp với thửa số 4149. Ngoài ra, phần diện tích đất 597,7m² mà Tòa án sơ thẩm tuyên công nhận cho bà P được quyền sử dụng và phần diện tích đất 611m² Tòa án sơ thẩm tuyên công nhận cho ông P1 được quyền sử dụng, có tứ cận theo sơ đồ khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện C cung cấp, mà không tuyên cụ thể kích thước tự cận, là thiếu sót. Mặt khác, sơ đồ khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện C cung cấp cho Tòa án sơ thẩm không có kích thước ở hướng Đông. Lẽ ra, cần hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án sơ thẩm giải quyết lại vụ án. Nhưng thiếu sót này, Tòa án phúc thẩm yêu cầu Tòa án sơ thẩm phối hợp với Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện C bổ sung về kích thước diện tích đất ở hướng Đông và đã bổ sung, khắc phục được thiếu sót của bản án sơ thẩm. Vì vậy, không cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm.
- Xét thấy quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà P và ông P1, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà P và ông P1, sửa bản án sơ thẩm, buộc ông S hoàn trả giá trị đất cho bà P và ông P1, là không có căn cứ chấp nhận.
- Xét thấy quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà P và ông P1, sửa bản án sơ thẩm về kích thước và tứ cận diện tích đất, là có căn cứ.
- Về án phí: Do bà P và ông P1 thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nên Tòa án phúc thẩm không xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Thạch Thị P và ông Thạch P1.
Sửa bản án sơ thẩm số 37/2024/DS-ST, ngày 26-6-2024 của Tòa án nhân dân huyện C.
- Không chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị P và ông Thạch P1 về việc yêu cầu ông Thạch S hoàn trả giá trị đất diện tích 1.185,3m², thuộc một phần thửa số 947, tờ bản đồ số 6, loại đất ONT-CLN, tọa lạc tại ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Chấp nhận yêu cầu của ông Thạch S về việc yêu cầu công nhận diện tích đất 1.185,3m², thuộc một phần thửa số 947, tờ bản đồ số 6, loại đất ONT- CLN, tọa lạc tại ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Công nhận cho ông Thạch S được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng diện tích đất 1.185,3m², thuộc một phần thửa số 947, tờ bản đồ số 6, loại đất ONT-CLN, tọa lạc tại ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh và tài sản gắn liền với đất. Diện tích đất 1.185,3m² có tứ cận và kích thước như sau:
- - Hướng Đông giáp phần diện tích đất còn lại của thửa số 947, kích thước 23,7 mét;
- - Hướng Tây giáp đường H, kích thước 21 mét;
- - Hướng Nam giáp phần diện tích đất còn lại của thửa số 947 (Giáp diện tích đất ông Thạch P1 đang quản lý, sử dụng), kích thước 28,4 mét và 25,6 mét;
- - Hướng Bắc giáp thửa số 4147, kích thước 47,6 mét.
- Chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của ông Thạch P1 về yêu cầu công nhận diện tích đất 611m², thuộc một phần thửa số 947, tờ bản đồ số 6, loại đất ONT-CLN, tọa lạc tại ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Công nhận cho ông Thạch P1 được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng diện tích đất 611m², thuộc một phần thửa số 947, tờ bản đồ số 6, loại đất ONT-CLN, tọa lạc tại ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh và tài sản gắn liền với đất. Diện tích đất 611m² có tứ cận và kích thước như sau:
- - Hướng Đông giáp phần diện tích đất còn lại của thửa số 947, kích thước 12,30 mét (3,8m + 8,5m);
- - Hướng Tây giáp đường H, kích thước 12,4 mét (11,4m + 1,0m);
- - Hướng Nam giáp phần diện tích đất còn lại của thửa số 947 (Giáp diện tích đất bà Thạch Thị P đang quản lý, sử dụng), kích thước 56,5 mét;
- - Hướng Bắc giáp phần diện tích đất còn lại của thửa số 947 (Giáp diện tích đất ông Thạch S đang quản lý, sử dụng), kích thước 28,4 mét và 25,6 mét.
- Chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị P về việc yêu cầu công nhận diện tích đất 597,7m², thuộc một phần thửa số 947, tờ bản đồ số 6, loại đất ONT-CLN, tọa lạc tại ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Công nhận cho bà Thạch Thị P được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng diện tích đất 597,7m², thuộc một phần thửa số 947, tờ bản đồ số 6, loại đất ONT-CLN, tọa lạc tại ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh và tài sản gắn liền với đất. Diện tích đất 597,7m² có tứ cận và kích thước như sau:
- - Hướng Đông giáp phần diện tích đất còn lại thửa số 947, kích thước 8,5 mét;
- - Hướng Tây giáp đường H, kích thước 12,4 mét;
- - Hướng Nam giáp đường Đất, kích thước 59 mét;
- - Hướng Bắc phần diện tích đất còn lại của thửa số 947 (Giáp diện tích đất ông Thạch P1 đang quản lý, sử dụng), kích thước 56,5 mét.
(Có sơ đồ khu đất kèm theo)
- Ông Thạch S, ông Thạch P1, bà Thạch Thị P có quyền, nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất công nhận cho ông Thạch S, ông Thạch P1, bà Thạch Thị P theo bản án của Tòa án, theo quy định của pháp luật.
- Về chi phí thẩm định, định giá tài sản: Buộc bà Thạch Thị P và ông Thạch P1 phải chịu toàn bộ số tiền bằng 4.961.200 đồng (Bốn triệu chín trăm sáu mươi mốt nghìn hai trăm đồng). Bà Thạch Thị P đại diện nộp tạm ứng trước tại Tòa án sơ thẩm, nên không phải nộp tiếp.
- Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà Thạch Thị P và ông Thạch P1. Bà Thạch Thị P và ông Thạch P1 được miễn nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm, nên Tòa án phúc thẩm không xử lý.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Đê |
Bản án số 189/2024/DS-PT ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 189/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa Thạch Thị P với Thạch S
