Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 189/2023/HS-PT

Ngày 28-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Hải Hường
  • - Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Hà; Bà Hoàng Thị Thu Hiền
  • - Thư ký phiên toà: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: bà Phan Thị Diễm Hạnh - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 28/11/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 25/2023/TLPT-HS ngày 20 tháng 10 năm 2023 đối với các bị cáo Hoàng A, Đinh Văn N, Nguyễn Đăng H, Nguyễn Hải T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 151/2023/HS-ST ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 311/2023/QĐXXPT-HS ngày 09 tháng 11 năm 2023.

* Các bị cáo kháng cáo:

  1. Hoàng A, sinh ngày 07/11/2005. Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: Thôn T, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Hoàng Văn N1, sinh năm 1982 và bà Hoàng Thị L, sinh năm 1985; Tiền án: Không.

    Tiền sự: Ngày 28/11/2022, Công an thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích.

    Nhân thân: Ngày 30/6/2021, Công an thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác.

    Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/01/2023 đến ngày 10/4/2023 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh, hiện tại ngoại. (Có mặt)

  2. Đinh Văn N, sinh ngày 11/11/2005; Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: Thôn X, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Đinh Văn B, sinh năm 1983 và Đỗ Thị B1, sinh năm 1983; Tiền án: Không.

    Tiền sự: Ngày 01/12/2022, Công an thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích.

    Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/01/2023 đến ngày 10/4/2023 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh, hiện tại ngoại. (Có mặt)

  3. Nguyễn Đăng H, sinh ngày 19/3/2005 Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Số nhà B, ngõ C, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Đăng H1, sinh năm 1969 và bà Vũ Thị T1, sinh năm 1976; Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 11/01/2020 bị Công an thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây mất trật tự công cộng.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại. (Có mặt)

  4. Nguyễn Hải T, sinh ngày 14/11/2005; Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: Số nhà F, ngõ A, đường Đ, tổ dân phố C, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Hải T2, sinh năm 1983 và bà Trần Thị Ngọc A1, sinh năm 1984; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại. (Có mặt).

  • * Người bào chữa cho bị cáo Đinh Văn N, Hoàng A: Luật sư Hà Đình T3 - Công ty L3 - Đoàn luật sư tỉnh B. Địa chỉ: TDP L, TT. T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt).

  • * Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hải T: Luật sư Ngô Bắc T4 - Văn phòng luật sư Đ và Cộng sự - Đoàn luật sư tỉnh B. Địa chỉ: Số B L, phường D, TP B, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt).

  • * Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đăng H: Luật sư Hoàng Đức T5 - Văn phòng luật sư Đ và Cộng sự - Đoàn luật sư tỉnh B. Địa chỉ: Số B L, phường D, TP B, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt).

  • * Người đại diện hợp pháp của bị cáo Hoàng A: Ông Hoàng Văn N1, sinh năm 1982; Địa chỉ: Thôn T, xã T, TP B, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt).

  • * Người đại diện hợp pháp của bị cáo Đinh Văn N: Bà Đỗ Thị B1, sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn X, xã T, TP B, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt).

  • * Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Hải T: Bà Trần thị Ngọc A2, sinh năm 1984; Địa chỉ: Số nhà E, ngõ A, đường H, phường L, TP B, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt).

  • * Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Đăng H: Bà Vũ Thị T1, sinh năm 1976; Địa chỉ: Số nhà B, ngõ C, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt).

  • * Ngoài ra trong vụ án có 10 bị cáo khác, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng nhưng không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Buổi tối ngày 28/11/2022, Cáp Văn L1, sinh ngày 13/11/2004 cùng Thân Anh T6, sinh ngày 25/9/2006; Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 18/6/2004; Nguyễn Hữu T7, sinh ngày 03/3/2004; Nguyễn Ngọc Trường S, sinh ngày 01/09/2005 đều trú tại phường D, thành phố B; H, sinh ngày 23/02/2006, trú tại xã H, huyện Y; Đinh Văn N, sinh ngày 11/11/2005; Hoàng A, sinh ngày 07/11/2005 đều trú tại xã T, thành phố B; Nguyễn Hoàng H2, sinh ngày 07/10/2006; Nguyễn Đăng D, sinh ngày 05/6/2006 đều trú tại phường T, thành phố B chở nhau bằng xe máy đi chơi trên các tuyến đường của thành phố B.

Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, nhóm của Cáp Văn L1 gặp Ngô Duy A3, sinh ngày 11/10/2007, trú tại tổ dân phố số A, phường M, thành phố B điều khiển xe máy chở Phạm Duy K, sinh 10/9/2006, trú tại tổ dân phố số D, phường M, thành phố B và Nguyễn Trường Q, sinh ngày 22/5/2007, trú tại phường L, thành phố B đi trên đường T, phường M. Nhóm của L1 vòng xe quay lại đuổi theo đến khu vực gần Bệnh viện ung bướu tỉnh B thì đuổi kịp và chặn lại. L1 nhận ra A3 là em trai Ngô Duy C, sinh năm 2003 là người quen nên cho A3 đi. Sau đó, nhóm của L1 tiếp tục đi vào trung tâm thành phố B chơi.

Đối với Ngô Duy A3 đi về nhà và kể cho anh trai là Ngô Duy C biết việc bị nhóm của Cáp Văn L1 đuổi đánh. Sau khi được A3 kể lại, C điều khiển xe máy chở A3, K, Q đi tìm nhóm của L1 để đánh. C mang theo một chiếc gậy rút và một con dao gấp để trong cốp xe máy. Khi đi đến trước C, đường N, thành phố B thì C bảo K và Q xuống xe chờ để C và A3 đi tìm nhóm của L1. C lấy gậy và dao trong cốp xe ra đưa cho A3 cầm. Khi đi đến đường H thì A3 nhìn thấy nhóm của L1 đi trên đường nên chỉ tay về nhóm của L1 và báo cho C biết. Cùng thời điểm đó, Thân A4 T6 nhìn thấy A3 chỉ tay về phía nhóm của mình nên nói với mọi người: “Hai thằng kia vừa chỉ tay nói gì anh em mình”. Nhóm của L1 đi xe máy đuổi theo đến ngã tư đường L - N thì C dừng lại. C cầm gậy rút còn A3 cầm dao đứng ở ngã tư. Nhóm của L1 định quay xe bỏ đi thì Nguyễn Đăng D nói “chỉ có mỗi cái gậy thôi”. Nhóm của L1 liền đi xe máy quay lại. C và A3 sợ nên bỏ xe lại và chạy vào quán ăn của bà Lê Thị Bích H3, sinh năm 1965 ở số A, đường L, thành phố B. Hoàng A, T8 và D xuống xe, mỗi người nhặt một viên gạch cầm trên tay. D và C chửi thách thức đánh nhau. Một phụ nữ có mặt ở quán dọa sẽ báo công an nên nhóm của L1 bỏ đi. Hoàng A rút chìa khoá xe máy của C rồi ném vào một bụi cây gần đó. Nhóm của L1 đi đến trước C thì gặp Q và K đứng ở đó. Nhìn thấy nhóm của L1 đến, Q và K bỏ chạy. N và T8 đuổi theo. N dùng tay đấm vào mặt K và nói “gọi thằng C mốc ra đây gặp bọn tao”. Sau đó, nhóm của L1 tiếp tục đi chơi trên các tuyến đường của thành phố B.

Đối với C và A3 sau khi biết nhóm của L1 bỏ đi thì đi ra lấy xe máy nhưng thấy không có chìa khóa nên A3 dắt xe máy vào gửi tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B. C gọi điện thoại cho Lương Tuấn A5, sinh năm 2002, trú tại số A, ngõ A tổ dân phố L, phường L, thành phố B đến đón đưa về nhà. Trên đường đi, C nói cho Tuấn A5 biết nhóm của L1 đuổi đánh. Do Tuấn A5 quen biết Nguyễn Đăng D nên gọi điện thoại cho D hẹn gặp để hòa giải. Tuấn A5 lái xe ô tô đưa C và A3 đến Quảng trường 3/2, hai bên nói chuyện và hòa giải với nhau. Sau đó, Tuấn A5 lái xe đưa C, A3 về nhà. Khi về đến nhà, C được K kể lại sự việc bị nhóm của L1 đánh. C nói ngày hôm sau sẽ tìm nhóm của L1 đánh để trả thù.

Buổi sáng ngày 29/11/2022, Ngô Duy C sử dụng tài khoản Facebook “Công Teddy” nhắn tin cho Vũ Thúy V, sinh ngày 21/4/2004, trú tại số B, đường N, phường N, thành phố B; Đào Xuân Đức A6, sinh ngày 28/3/2004 trú tại thôn M, xã T, thành phố B và em trai là Ngô Duy A3 rủ đi tìm đánh nhóm của Cáp Văn L1. C hẹn mọi người đến buổi tối cùng ngày tập trung ở nhà C rồi cùng đi. C chuẩn bị 01 thanh đao bằng kim loại dài 93cm và 01 con dao bằng kim loại dài 24cm (loại dao gấp) là công cụ đi đánh nhau. Sau đó, Đào Xuân Đức A6 nhắn tin cho Đỗ Trường S1, sinh ngày 11/02/2006, trú tại số A, ngõ B, C, phường L, thành phố B; Vũ Thúy V nhắn tin cho Nguyễn Đăng H, sinh ngày 19/3/2005 trú tại số nhà B, ngõ C, đường N, phường T, thành phố B biết việc C rủ đi đánh nhau.

Khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngày, Phạm Duy K đi xe đạp điện đến nhà Ngô Duy C thì A3 bảo đi mượn xe máy rồi đi đánh nhau. Đặng Văn H4, sinh ngày 07/12/2005, trú tại số H, đường N, phường T, thành phố B đi xe máy biển số 98B2-697.83 đến nhà C chơi và được C rủ đi đánh nhau thì H4 đồng ý. C bảo mọi người ở nhà đợi rồi C điều khiển xe máy biển số 98B2-697.83 chở H4 đi quanh các tuyến đường để tìm nhóm của L1. Khi đi, C đưa cho H4 cầm thanh đao và C để 02 con dao trong túi bóng treo ở xe máy.

Sau đó, K và A3 đến gặp anh Nguyễn Văn S2, sinh năm 2005, trú tại thôn P, xã S, thành phố B mượn chiếc xe máy biển số 98E1-633.40. K nói với anh S2 mượn xe là để đi mua xăng. Sau khi mượn được xe, A3 đi xe máy chở K về đến khu vực chân cầu M thì gặp C và H4. C nhắn tin cho Vũ Thúy V bảo ra đền T12 để cùng đi tìm nhóm của L1. Thời điểm này, V và Nguyễn Đăng H đang ngồi uống nước ở gầm cầu M nên V bảo H đi xe máy biển số 98B1-656.65 chở V cùng đi. Khi gặp nhau, C nói cho mọi người biết là bị nhóm của L1 đuổi đánh nên rủ đi tìm đánh nhóm của L1. C đưa cho A3 con dao gấp và đưa cho Nguyễn Đăng H 01 con dao. H cầm rồi đưa lại cho V con dao này. C cầm 01 thanh đao. Nhóm của C đi trên các tuyến đường của thành phố B tìm nhóm của L1 nhưng không thấy nên đến quán trà đá ở gầm cầu M uống nước. Một lúc sau, Đức A6 nhắn tin cho C hỏi đang ở đâu thì C hẹn gặp tại gầm cầu M. Đức A6 đi đến quán nước ở gần trường tiểu học L4 để đón Đỗ Trường S1 thì gặp Đặng Thành T9, sinh ngày 16/07/2006, trú tại số nhà E, đường T, phường L, thành phố B là bạn S1 có mặt ở đó đang ngồi uống nước. Đức A6 đi xe máy biển số 98B3-669.50 còn S1 đi xe máy biển số 98B3-874.08 chở T9 đến quán trà đá ở gầm cầu M. Sau đó, K và A3 đi tìm nhóm của L1 còn mọi người ở lại chờ.

Đối với nhóm của Cáp Văn L1: Buổi tối ngày 29/11/2022 sau khi gặp nhau đi chơi trên đường thì nhóm của L1 gồm: Thân Anh T6 đi xe máy biển số 98B3-891.68 chở Cáp Văn L1; Nguyễn Văn T10, sinh ngày 06/12/2005, trú tại tổ dân phố Đ, phường X, thành phố B đi xe máy biển số 98B3-856.22 chở Nguyễn Hải T, sinh ngày 14/11/2005, trú tại tổ dân phố C, phường X, thành phố B; Nguyễn Văn H5, sinh ngày 21/02/2006, trú tại thôn R, xã D, thành phố B đi xe máy biển số 98G1-146.60 chở Nguyễn Mạnh S3, sinh ngày 23/12/2006, trú tại phòng 2002, chung cư B, phường D, thành phố B; Nguyễn Ngọc Trường S đi xe máy biển số 98B3-89.882 chở Nguyễn Thành Đ và Nguyễn Hữu T7 (Đ mang theo 01 con dao bằng kim loại để trong ba lô); Đinh Văn N đi xe máy BKS 98B3-857.00 chở Nguyễn Hoàng H2 (N đem theo một con dao dài khoảng 40cm và cất giấu trong áo khoác). Cả nhóm đi chơi quanh các tuyến đường trong thành phố B. Khi nhóm của L1 đang đi trên đường thì Nguyễn Hoàng Gia L2, sinh năm 2008, trú tại đường T, phường D, thành phố B (là bạn Nguyễn Đăng D) nhắn tin vào nhóm Z chung cho mọi người biết nhóm của C đang đi tìm nhóm của L1 để đánh nên Đinh Văn N nói thế thì gặp ở đâu sẽ đánh ở đấy.

Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, Thân A4 T6 không tham gia cùng mọi người đi chơi nữa và đi xe máy ra về trước nên Cáp Văn L1 chuyển sang ngồi lên xe do Nguyễn Văn H5 điều khiển. Nguyễn Hoàng H2 đi chơi bi-a còn Nguyễn Hữu T7 đi chơi điện tử nên không tham gia đi cùng nhóm của L1. Những người còn lại tiếp tục đi chơi xung quanh khu vực quảng trường 3/2.

Một lúc sau, Phạm Duy K và Ngô Duy A3 nhìn thấy nhóm của Cáp Văn L1 ở Q nên K gọi điện thoại báo cho C biết. C bảo K quay lại quán trà đá ở gầm cầu M rồi cả nhóm sẽ cùng đi. Các đối tượng trong nhóm của Ngô Duy C xuất phát và đem theo hung khí như sau:

  • - Đào Xuân Đức A6 điều khiển xe máy biển số 98B3-669.50 chở Ngô Duy C mang theo thanh đao cài sườn bên phải của xe máy.
  • - Ngô Duy A3 điều khiển xe máy số 98E1-633.40 chở Phạm Duy K ngồi sau. A3 mang theo 01 con dao gấp.
  • - Nguyễn Đăng H điều khiển xe máy biển số 98B1-656.65 chở Vũ Thúy V ngồi sau. V mang theo 01 con dao.
  • - Đặng Văn H4 điều khiển xe máy biển số 98B2-697.83 đi một mình, không đem theo hung khí.
  • - Đỗ Trường S1 điều khiển xe máy biển số 98B3-874.08 chở Đặng Thành T9 đi phía sau xem đánh nhau, không đem hung khí; khi đi đến đường N do sợ nên không tham gia đi cùng nhóm của C nữa.

Khoảng 22 giờ 15 phút cùng ngày, nhóm của C đi qua vị trí T10, T, NHoàng A đang đứng ở Q thì A3 chỉ tay về phía Nam. Sau khi thấy A3 chỉ tay về phía mình, N đi xe máy chở Hoàng A đuổi theo. T10 đi xe máy chở T cùng tham gia đuổi theo. H4 và S1 thấy mọi người đuổi theo nhóm của C nên điều khiển xe máy đuổi theo. L1 bảo H4 dừng xe để L1 điều khiển còn H4 ngồi ra sau. L1 điều khiển xe chở H4 và S1 cùng mọi người đuổi theo nhóm của C về các hướng khác nhau.

Nhóm của L1 đuổi theo Đức A6 và A3 đến cổng trường THPT chuyên Bắc Giang thì N nhìn thấy sườn bên phải xe máy của Đức A6 có cài thanh đao nên N nói: “thôi không đuổi nữa, chúng nó có đao đấy”. L1 nói: “đuổi đi sợ gì”. Cả nhóm tiếp tục đi xe máy đuổi theo nhóm của C để đánh. Đức A6, A3 lái xe bỏ chạy đến ngã tư đường H - đường N thì rẽ vào đường N, đi qua cầu vượt đường Xương Giang đến đường T đi qua chung cư G city thì C lấy đao cầm ở tay. Đức A6 điều khiển xe rẽ trái đi vào đường T hướng sân vận động B2 còn A3 điều khiển xe đi theo đường Trần Quang K1 hướng đi cầu B được khoảng 100m thì quay lại. Nhóm của L1 đuổi theo Đức A6 đến khu vực trường Cao đẳng K2 Công nghiệp Bắc Giang thì Đ lấy dao trong ba lô ra đưa cho L1 cầm; bản thân Đ cầm một con dao. N bảo Hoàng Anh: “mở áo khoác tao ra lấy dao”. Hoàng A kéo khóa áo khoác phía trước của N ra lấy 01 con dao cầm ở tay. Thấy vậy, Nguyễn Mạnh S3 bảo Hoàng Anh đưa dao cho S3 cầm. Khi Đức A6 điều khiển xe máy chở C ngồi sau chạy đến đường X (khu vực cổng sân vận động B2) thì C cầm đao chém về phía nhóm của L1 nhưng không trúng ai. Do C chém hụt nên Đức A6 mất lái đâm xe vào giải phân cách. Cùng lúc này, nhóm của L1 đuổi đến, C và Đức A6 bỏ chạy về hướng đường H. L1 và Nguyễn Mạnh S3 cầm dao cùng N, Hoàng A chạy bộ còn Nguyễn Ngọc Trường S điều khiển xe máy chở Đ cầm dao; T10 điều khiển xe máy chở T đuổi theo C và Đức A6. Khi C và Đức A6 chạy qua vòng xuyến (đối diện cổng sân vận động B2) thì C quay lại cầm đao giơ lên và chém về phía người Nguyễn Ngọc Trường S và Đ nhưng không trúng. C cầm đao chém về phía T10 và T thì trúng vào yên xe máy. C bị ngã ra đường thì L1, NHoàng A xông vào đánh. Đúng lúc đó, A3 và K đi đến thấy nhóm của L1 đánh C nên A3 cầm dao gấp chạy đến nói: “thằng nào đánh anh tao”. Đức A6 bỏ chạy đến trước cửa số nhà A, đường X thì bị Nguyễn Mạnh S3 dùng dao chém hai nhát trúng vào vùng đầu. Sau đó, C điều khiển xe máy chở A3 còn K lấy xe máy biển số 98B3-857.00 của nhóm L1 điều khiển xe bỏ chạy về nhà. Thấy vậy, Nguyễn Ngọc Trường S điều khiển xe máy chở Đ và L1; T10 điều khiển xe chở T và Hoàng A cùng N điều khiển xe máy chở H4 tiếp tục đuổi theo nhóm C đến chân cầu M thì không đuổi nữa mà quay lại khu vực cổng sân vận động B2. Khi nhóm của L1 đi đến cổng sân vận động B2 thì gặp Nguyễn Mạnh S3. N bảo với mọi người bị nhóm của C lấy xe máy. Đức A6 quay lại lấy xe máy và dắt xe đi đến gần tòa nhà Đại Hoàng S4 thì nhóm của L1 đuổi theo. L1 dùng chân đá Đức A6 nhưng không trúng còn Nguyễn Mạnh S3 dùng tay đánh Đức A6 và N dùng chân đạp vào lưng Đức A6. Mọi người can ngăn thì nhóm của L1 bỏ đi. Sự việc sau đó được trình báo đến Công an phường N, thành phố B.

Đối với Đào Xuân Đức A6 bị thương phần mềm vùng đầu phải đi điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B từ ngày 29/11/2022 đến ngày 30/11/2022 thì ra viện. Tình trạng thương tích: Vết thương vùng đỉnh kích thước 2 x 1 cm; vết thương vùng gáy kích thước 1 x 1 cm; CT sọ não hiện không thấy tổn thương.

Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 1118 ngày 19/12/2022 của Trung tâm pháp y - Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích của Đào Xuân Đức A6 là 08%; các thương tích do vật sắc gây nên.

Cơ quan CSĐT Công an thành phố B thu giữ 01 file video được trích xuất từ camera an ninh của Công an thành phố B và trưng cầu giám định.

Kết luận số 415/KL-KTHS, ngày 14/3/2023 của Phòng K3 - Công an tỉnh B kết luận:

  1. Không phát hiện dấu vết bị cắt ghép nội dung hình ảnh trong file video có tên file “TP_Truoc_cua_so_20221129_222232.mp4"; dung lượng: 308 MB; thời lượng: 09 phút 59 giây, lưu trữ trong 01 đĩa DVD-R nhãn hiệu Maxell, màu cam gửi giám định.
  2. Trích xuất được 32 hình ảnh thể hiện diễn biến sự việc có trong file video gửi giám định (bút lục 248).

Cơ quan điều tra đã cho Ngô Duy C, Cáp Văn L1, Nguyễn Ngọc Trường S, Hoàng A, Nguyễn Thành Đ, Đinh Văn N, Nguyễn Văn T10, Nguyễn Hải T, Nguyễn Văn H5, Đào Xuân Đức A6 và đối tượng Nguyễn Mạnh S3 xem file video và 32 hình ảnh được trích xuất trong file video. Kết quả các bị can và S3 xác định có hình ảnh C cầm đao; hình ảnh Đức A6 chạy theo sau C; hình ảnh mọi người trong nhóm của Cáp Văn L1 đuổi đánh nhau.

  • * Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo Cáp Văn L1, Nguyễn Ngọc Trường S, Nguyễn Thành Đ, Nguyễn Văn T10 đã bồi thường cho Đào Xuân Đức A6 45.000.000 đồng. Đức A6 tự nguyện rút đơn yêu cầu khởi tố và không yêu cầu bồi thường thêm.

  • * Với hành vi phạm tội nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 151/2023/HS-ST ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang quyết định:

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đinh Văn N 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/01/2023 đến ngày 10/4/2023.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng A 01 năm 08 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/01/2023 đến ngày 10/4/2023.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải T 01 năm 07 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng H 01 năm 07 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đặng Văn H4 01 năm 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt đối với các bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 15/9/2023, bị cáo Nguyễn Hải T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 18/9/2023, bị cáo Nguyễn Đăng H và bị cáo Hoàng A kháng cáo xin hưởng án treo.

Ngày 19/9/2023, bị cáo Đinh Văn N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt xin hưởng án treo.

Ngày 21/9/2023, bị cáo Nguyễn Văn H5 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Trước khi mở phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H5 đã có đơn xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo, Tòa án cấp phúc thẩm đã ban hành Thông báo về việc rút kháng cáo đối với bị cáo Nguyễn Văn H5. Bản án sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Văn H5 đã có hiệu lực pháp luật.

  • * Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Hoàng A, Đinh Văn N, Nguyễn Đăng H, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình

  • - Bị cáo Nguyễn Hải T thay đổi nội dung kháng cáo đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

  • - Bị cáo Nguyễn Đăng H thay đổi nội dung kháng cáo đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

  • - Bị cáo Hoàng A rút một phần nội dung kháng cáo không xin hưởng án treo và giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

  • - Bị cáo Đinh Văn N giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

  • * Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đề nghị HĐXX: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng A, bị cáo Đinh Văn N. Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Đăng H, Nguyễn Hải T. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với bị cáo Nguyễn Đăng H, Nguyễn Hải T. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 151/2023/HS-ST ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng H từ 1 năm 5 tháng đến 1 năm 6 tháng. Bị cáo Nguyễn Hải T từ 1 năm 5 tháng đến 1 năm 6 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

  • Luật sư bào chữa cho bị cáo Hoàng A, Đinh Văn N bày tranh luận: Các bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi của mình, phạm tội chưa đủ 18 tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế, đề nghị áp dụng quy định chương người chưa thành niên phạm tội cho các bị cáo hưởng lượng khoan hồng của pháp luật giảm nhẹ 1 phần hình phạt cho các bị cáo.

  • Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đăng H trình bày tranh luận: Bị cáo có vai trò thấp trong vụ án, có tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị áp dụng Điều 65; Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo là 01 năm 05 tháng.

  • Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hải T bày tranh luận: Nhất trí với nhận định về tội danh, điều luật áp dụng. Vai trò nhân thân và các tình tiết tặng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo có vai trò thứ yếu, chưa có tiền án tiền sự, nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự, là người dưới 18 tuổi đề nghị HĐXX áp dụng Điều 65 cho bị cáo được hưởng mức án 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

  • Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm.

  • Các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận gì.

  • Bị cáo Hoàng A nói lời sau cùng: Bị cáo còn trẻ chưa hiểu biết pháp luật nên đề nghị HĐXX giảm nhẹ cho bị cáo.

  • Bị cáo Đinh Văn N nói lời sau cùng: Mong HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.

  • Bị cáo Nguyễn Đăng H nói lời sau cùng: Mong HĐXX cho bị cáo được hưởng án treo để được cải tạo tại địa phương.

  • Bị cáo Nguyễn Hải T nói lời sau cùng: Mong HĐXX cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tội danh của các bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo khác trong quá trình điều tra, phù hợp lời khai của người làm chứng, người chứng kiến và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Buổi tối ngày 28/11/2022, nhóm của Cáp Văn L1 xảy ra mâu thuẫn, thách thức đánh nhau với nhóm của Ngô Duy C nhưng sau đó hai bên đã hòa giải với nhau. Do bực tức vì bị nhóm của L1 đuổi đánh nên C rủ các đối tượng quen biết đến ngày hôm sau sẽ đi tìm nhóm của L1 để đánh trả thù. Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 29/11/2022, nhóm của C tập hợp nhau tại khu vực gầm cầu M để đi đánh nhau. Trong đó, Đào Xuân Đức A6 điều khiển xe máy chở Ngô Duy C mang theo 01 thanh đao; Ngô Duy A3 điều khiển xe máy chở Phạm Duy K ngồi sau (A3 mang theo 01 con dao); Nguyễn Đăng H điều khiển xe máy chở Vũ Thúy V ngồi sau (V mang theo 01 con dao); Đặng Văn H4 điều khiển xe máy đi một mình. Nhóm của C đi đến khu vực Q thì gặp nhóm của Cáp Văn L1. Sau khi gặp nhau, nhóm của Cáp Văn L1 gồm: Cáp Văn L1, Hoàng A, Đinh Văn N, Nguyễn Văn H5, Nguyễn Ngọc Trường S, Nguyễn Mạnh S3, Nguyễn Thành Đ, Nguyễn Văn T10, Nguyễn H6 đi xe máy, dùng hung khí đuổi theo đánh nhóm của C trên các tuyến đường thành phố B (Đ và N mang theo dao). Trong lúc truy đuổi, đánh nhau; Nguyễn Mạnh S3 dùng dao chém Đào Xuân Đức A6 bị thương 08%. Hành vi của các bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội trên địa bàn thành phố B. Đối với Đào Xuân Đức A6 bị thương 08% nhưng đã tự nguyện rút đơn yêu cầu khởi tố nên không xử lý các bị cáo về hành vi cố ý gây thương tích. Hoàng A, Nguyễn Văn H5, Nguyễn Đăng H, Đặng Văn H4, Đinh Văn N, Nguyễn Văn T10, Nguyễn Hải T, Phạm Duy K, Nguyễn Ngọc Trường S là những người dưới 18 tuổi phạm tội. Đối với Ngô Duy A3, Nguyễn Mạnh S3 do chưa đủ 16 tuổi nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, hành vi của các bị cáo Ngô Duy C, Cáp Văn L1, Hoàng A, Nguyễn Văn H5, Nguyễn Đăng H, Đặng Văn H4, Đinh Văn N, Nguyễn Văn T10, Nguyễn Hải T, Phạm Duy K, Nguyễn Ngọc Trường S, Vũ Thúy V, Nguyễn Thành Đ, Đinh Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự

Bản án sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, không oan, sai.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội tại địa phương, đồng thời là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn cố ý phạm tội nên cần xử lý nghiêm các bị cáo bằng pháp luật hình sự nhằm răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho loại tội này.

Do các bị cáo chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo nên Hội đồng xét xử thấy có căn cứ xác định các bị cáo phạm tội như bản án sơ thẩm đã xét xử nên chỉ xem xét yêu cầu kháng cáo của các bị cáo.

[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Hoàng A, Đinh Văn N, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị cáo Hoàng A và bị cáo N có vai trò cao thứ hai trong vụ án, là những người đóng vai trò tích cực, tham gia giúp sức cho bị cáo L1 bằng các hành vi chuẩn bị hung khí, phương tiện, trực tiếp truy đuổi nhóm của bị cáo C. Bị cáo Hoàng A, Đinh Văn N, là người có nhân thân xấu. Bị cáo N có 01 tiền sự: ngày 01/12/2022, Công an thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích; Bị cáo Hoàng A có 01 tiền sự: bị Công an thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích. Tháng 6/2021 bị Công an thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác, nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học để sửa sai lại tiếp tục có hành vi phạm tội, chứng tỏ bị cáo có thái độ coi thường pháp luật. Do các bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo. Quá trình xét xử phúc thẩm các bị cáo Hoàng AN nộp tiền án phí theo bản án sơ thẩm nhưng đây không phải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, cần phải có hình phạt nghiêm khắc cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để xử lý đối với hành vi phạm tội của bị cáo. Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Hoàng A, Đinh Văn N theo đúng quy định pháp luật và xử phạt bị cáo Đinh Văn N 02 năm tù, Hoàng A 01 năm 08 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” là phù hợp, không nặng. Do vậy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của hai bị cáo.

[3] Xét kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Đăng H, Nguyễn Hải T11, Hội đồng xét xử xét thấy:

- Đối với kháng cáo xin hưởng án treo thì thấy: Trong vụ án này, bị cáo Đăng H có vai trò cao thứ ba, thực hiện các hành vi dùng xe mô tô, mang theo hung khí, truy đuổi nhau trên các tuyến phố trên địa bàn thành phố B. Bị cáo Hải T11 có vai trò thứ tư trong vụ án, là người có trực tiếp tham gia vào hai nhóm truy đuổi nhau nhưng không tham gia vào việc đánh hay gây thương tích cho ai. Bị cáo Nguyễn Đăng H có nhân thân xấu, phạm tội quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự thuộc trường hợp nghiêm trọng nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo H và bị cáo T11.

- Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt thì thấy: Quá trình xét xử phúc thẩm ngoài các tình tiết giảm nhẹ mà cấp sơ thẩm đã áp dụng, các bị cáo xuất trình tài liệu mới gồm: Bị cáo Nguyễn Hải T11 được UBND phường X tặng giấy khen trong việc trực các chốt phòng dịch covid 19; mẹ đẻ bị cáo được chính quyền địa phương tặng giấy khen có thành tích xuất sắc trong phòng trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa năm 2023; bị cáo được chính quyền địa phương xác nhận trong thời gian sống ở địa phương bị cáo luôn chấp hành tốt các chính sách pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân nơi cư trú. Bị cáo Nguyễn Đăng H được chính quyền địa phương xác nhận tích cực tham gia phòng chống covid 19; bị cáo có ông nội, bà nội được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến. Do vậy áp dụng cho bị cáo H, T11 thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét bị cáo H, T11 có nhiều tình tiết giảm nhẹ, vai trò không cao trong vụ án nên có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt đối với hai bị cáo nhưng cho bị cáo T11 được hưởng mức án thấp hơn so với bị cáo H trong vụ án là đảm bảo quyền lợi cho các bị cáo.

[4]. Từ những nhận định nêu trên, HĐXX không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Hoàng A, Đinh Văn N; không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Đăng H, Nguyễn Hải T11; Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Đăng H, Nguyễn Hải T11 như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

[5]. Về án phí: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, do kháng cáo của bị cáo Hoàng A, Đinh Văn N không được chấp nhận nên các bị cáo Hoàng A, Đinh Văn N phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Nguyễn Đăng H, Nguyễn Hải T11 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 356; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b, h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Đăng H, Nguyễn Hải T11.
  2. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Hoàng A, Đinh Văn N. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 151/2023/HS-ST ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang về hình phạt đối với bị cáo Hoàng A, Đinh Văn N.
  3. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Đăng H, Nguyễn Hải T11. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 151/2023/HS-ST ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Đăng H, Nguyễn Hải T11.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải T11 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

4. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Hoàng A, Đinh Văn N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Nguyễn Đăng H, Nguyễn Hải T11 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

5. Án phí hình sự sơ thẩm: Xác nhận các bị cáo đã nộp xong án phí hình sự sơ thẩm cụ thể:

  • Bị cáo Hoàng A đã nộp số tiền 200.000đồng theo Biên lai thu số 0000194 ngày 22/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang.
  • Bị cáo Đinh Văn N đã nộp số tiền 200.000đồng theo Biên lai thu số 0000192 ngày 20/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang.
  • Bị cáo Nguyễn Hải T11 đã nộp số tiền 200.000đồng theo Biên lai thu số 0000196 ngày 22/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang.
  • Bị cáo Nguyễn Đăng H đã nộp số tiền 200.000đồng theo biên lai thu số 0000195 ngày 22/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang.

6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhân:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Cơ quan CSĐT, VKS, TAND, Chi cục THADS TP Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng;
  • - Lưu Hồ sơ, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hoàng Thị Hải Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 189/2023/HS-PT ngày 28/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự phúc thẩm (gây rối trật tự công cộng)

  • Số bản án: 189/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Gây rối trật tự công cộng)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Anh và ĐP - Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger