Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 188/2024/HS-ST

Ngày: 30 – 7 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Anh Thi.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Vũ Thị Thu Thủy.

Ông Lê Văn Công.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Sao Mai - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Sỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 210/2024/TLST- HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 250/2024/QĐXXST- HS ngày 19 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Trung P, sinh năm 1979 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: 148 khu phố Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Trung H (đã chết) và bà Nguyễn Thị G; Vợ Trịnh Thị Xuân T và có 01 người con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 23/11/2018 bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ) T, tỉnh Bình Dương xử 08 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 04 tháng về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 273/2018/HS-ST; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/11/2023 đến ngày 01/02/2024 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh.
  2. Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1981 tại tỉnh Bình Dương; Nơi thường trú: 9/14 khu phố H, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá: 00/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông (không rõ) và bà Nguyễn Thị E; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/11/2023 đến ngày 01/02/2024 được thay thế bằng biện pháp đặt tiền để bảo đảm.
  3. Nguyễn Minh V, sinh năm: 1982 tại tỉnh Bình Dương; Nơi thường trú: 2/1 khu phố P, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hoá: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nuyễn Văn C (đã chết) và Lê Thị T1 (đã chết); Vợ Nguyễn Thị S và có 02 người con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/11/2023 đến ngày 03/01/2024 được thay thế bằng biện pháp đặt tiền để bảo đảm.
  4. Trương Văn T2, sinh năm: 1987 tại tỉnh Bình Dương; Nơi thường trú: 33/13 khu phố H, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Rửa xe; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn E1 và bà Nguyễn Thị C1; Có vợ Đặng Kim D và có 03 người con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/11/2023 đến ngày 12/01//2024 được thay thế bằng biện pháp đặt tiền để bảo đảm.
  5. Nguyễn Văn T3, sinh năm 1983 tại tỉnh Hậu Giang; Nơi thường trú: Tổ C, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; Tạm trú: 14/13 khu phố H, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dường; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị T4; Có vợ Phan Thị B và có 01 người con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/11/2023 đến ngày 01/02/2024 được thay thế bằng biện pháp đặt tiền để bảo đảm.
  6. Giang Quốc H2, sinh năm 1986 tại tỉnh Bình Dương; Nơi thường trú: Số A, khu phố C, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Ú (đã chết) và bà Giang T5 (đã chết); Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 10/6/2023 bị Công an thành phố T Quyết định xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc (nộp phạt ngày 05/02/2024). Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/11/2023 đến ngày 01/02/2024 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh.
  7. Trương Minh Đ1, sinh năm 1993 tại tỉnh Bình Dương; Nơi thường trú: 12/13 khu phố H, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Trí M và bà Nguyễn Thị Thu D1; Có vợ Trần Thị Kim N và 01 người con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
  8. Mai Hoàng P1, sinh năm 1988 tại tỉnh Sóc Trăng; Nơi thường trú: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Tạm trú: 17/4 khu phố T, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mai Quốc D2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị S1; Có vợ Lê Thị H3 và 04 người con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 01/2015/HSST ngày 06/02/2015 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xử 03 tháng tù về tội “Đánh bạc”; Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
  9. Lê Văn T6 (tên gọi khác: M1), sinh năm 1987 tại tỉnh Bình Dương; Nơi thường trú: 69C khu phố H, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn S2 và bà Trần Thị L; Có vợ Nguyễn Thị Hồng L1 và 02 người con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
  10. Lương Đắc C2, sinh năm 1984 tại tỉnh Nghệ An; Nơi thường trú: Xóm F, xã N, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Tạm trú: 279 khu phố Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lương Sơn H4 và bà Trần Thị X; Có vợ Mai Thị T7 và 02 người con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/11/2023 đến ngày 03/01/2024 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh.
  11. Nguyễn Văn T8, sinh năm 1988 tại tỉnh Bến Tre; Nơi thường trú: Áp A, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre; Chỗ ở: B khu phố Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hoá: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Q và bà Nguyễn Thị L2; Có vợ Nguyễn Thị Kim U và 02 người con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/11/2023 đến ngày 01/02/2024 được thay thế bằng biện pháp đặt tiền để bảo đảm.

Các bị cáo đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Người bào chữa cho các bị cáo: Luật sư Trần Thanh A, Chi nhánh Công ty L3 thuộc Đoàn luật sư tỉnh B. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 00 ngày 26/11/2023, tại bãi đất trống hẻm L, khu phố H, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Công an phường L và Đ2 Công an thành phố T tuần tra phát hiện bắt quả tang Nguyễn Trung P, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Minh V, Trương Văn T2, Nguyễn Văn T3, Lương Đắc C2, Nguyễn Văn T8, Giang Quốc H2, Trương Minh Đ1, Mai Hoàng P1, Lê Văn T6 đang đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đá gà, thu giữ trên người tổng số tiền 24.650.000 đồng, 01 con gà màu đen, 01 con gà màu trắng, 02 bộ cựa gà bằng kim loại, 01 cân Nhơn Hòa loại 5kg, 10 cuộn băng keo dùng để quấn cựa gà, 01 điện thoại di động hiệu OPPO A95 màu đen, 01 điện thoại di động hiệu OPPO Renno7 Z5G màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Galaxy A12 màu xanh dương và 01 điện thoại di động VIVO màu xanh.

Quá trình điều tra xác định:

Nguyễn Trung P làm nghề phụ hồ nhưng không có thu nhập ổn định nên nảy sinh ý định sử dụng bãi đất trống nói trên để cho những người tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đá gà để thu tiền xâu. P mua 01 cân loại 05kg, băng keo dùng để quấn cựa gà, đứng ra sắp xếp, cáp kèo, làm trọng tài điều khiển trận đá, nhận tiền của bên thua chung cho bên thắng và thu tiền xâu 250.000 đồng/1 trận. P thuê Nguyễn Văn Đ canh gác với tiền công từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng/ngày.

Khoảng 09 giờ ngày 26/11/2023, Nguyễn Trung P điện thoại cho Nguyễn Văn T8 nói có con gà đá màu trắng 2,8kg của Nguyễn Minh V và nhờ T8 tìm người có con gà đá cùng trọng lượng để cáp kèo cá cược, T8 đồng ý. Lúc này, T8 biết Lương Đắc C2 có con gà màu đen nặng 2,8kg nên rủ C2 đá gà thắng thua bằng tiền thì C2 đồng ý. C2 nhờ T8 đi cùng để hỗ trợ buộc cựa gà và thả gà để đá cho C2, mỗi trận thắng C2 sẽ cho T8 100.000 đồng thì T8 đồng ý và thông báo cho P báo nhận kèo đá gà trên. P hẹn nhóm của T8 đến bãi đất trống nói trên để P tổ chức làm trọng tài, còn Đ là người cảnh giới, hai nhóm đá gà xổ một trận 10.000.000 đồng, cụ thể:

Nhóm thứ nhất gồm: Nguyễn Minh V (chủ gà màu trắng) cùng Trương Văn T2, Nguyễn Văn T3, Trương Minh Đ1, Lê Văn T6, Mai Hoàng P1, Giang Quốc H2 góp tổng số tiền là 5.000.000 đồng và sử dụng con gà màu trắng để đá.

Nhóm thứ hai gồm: Lương Đắc C2 (chủ gà màu đen) sử dụng 5.000.000 đồng, Nguyễn Văn T8 không góp tiền, hỗ trợ C2 buộc cựa gà và thả gà để đá.

Số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc như sau:

  • Nguyễn Trung P làm trọng tài, thu tiền xâu 250.000 đồng/trận. Tại thời điểm bắt quả tang trận đá gà chưa kết thúc, hai bên chưa chung tiền, P chưa nhận được tiền xâu, khi bị bắt quả tang thu giữ 01 chiếc điện thoại di dộng hiệu SamSung A12 màu xanh dương, kèm sim số 0963122841.
  • Nguyễn Văn Đ canh gác, được P trả từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng/ngày. Tại thời điểm bắt quả tang trận đá gà chưa kết thúc, Đỗ chưa nhận được được tiền công, khi bị bắt quả tang thu giữ số tiền trên người 7.300.000 đồng và 01 điện thoại di động VIVO màu xanh.
  • Nguyễn Minh V chủ con gà màu trắng, sử dụng 2.000.000 đồng đánh bạc, khi bị bắt thu giữ 1.600.000 đồng.
  • Trương Văn T2 sử dụng 500.000 đồng đánh bạc, khi bị bắt thu giữ 500.000 đồng.
  • Nguyễn Văn T3 sử dụng 500.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt thu giữ 1.400.000 đồng.
  • Giang Quốc H2 sử dụng 1.000.000 đồng đánh bạc, khi bị bắt thu giữ 2.700.000 đồng.
  • Lê Văn T6 sử dụng 300.000 đồng đánh bạc, khi bị bắt thu giữ 1.600.000 đồng.
  • Trương Minh Đ1 sử dụng 200.000 đồng đánh bạc, khi bị bắt thu giữ 1.000.000 đồng.
  • Mai Hoàng P1 sử dụng 500.000 đồng đánh bạc, khi bị bắt thu giữ 2.600.000 đồng.
  • Lương Đắc C2 là chủ của con gà màu đen, sử dụng 5.000.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt thu giữ 5.000.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu OPPO Renno7 Z5G, màu đen.
  • Nguyễn Văn T8 giúp sức cho C2 băng cựa gà, thả gà. Khi bị bắt thu giữ số tiền 950.000 đồng và 01 điện thoại hiệu OPPO A95 màu đen, gắn sim số 0399129971, 0395491328.

Tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 10.000.000 đồng.

Cáo trạng số 193/CT-VKS -TA ngày 16/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố các bị cáo: Nguyễn Trung P, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Minh V, Trương Văn T2, Nguyễn Văn T3, Giang Quốc H2, Trương Minh Đ1, Mai Hoàng P1, Lê Văn T6, Lương Đắc C2, Nguyễn Văn T8 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt các bị cáo:
  • Nguyễn Trung P từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng cải tạo không giam giữ và phạt bổ sung bị cáo 20.000.000 đồng.

    Mai Hoàng P1 từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ và phạt bổ sung bị cáo 15.000.000 đồng.

  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt các bị cáo:
  • Giang Quốc H2 từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.

    Nguyễn Minh V từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.

    Trương Văn T2 từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

    Nguyễn Văn T3 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

    Trương Minh Đ1 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

    Lê Văn T6 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

    Nguyễn Văn Đ từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

    Nguyễn Văn T8 từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo:
  • Lương Đắc Cường từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 9.600.000 đồng các bị cáo sử dụng đánh bạc và 300.000 đồng tiền thu lợi bất chính của Nguyễn Văn Đ; 01 điện thoại di động kiểu dáng Oppo A95 màu đen, 01 điện thoại di dộng kiểu dáng Galaxy A12 màu xanh dương đen; 01 điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh;

Giao trả cho các bị cáo: Nguyễn Văn T3 900.000 đồng, Giang Quốc H2 1.7000.000 đồng, Nguyễn Văn T8 950.000 đồng, Lê Văn T6 1.300.000 đồng, Trương Minh Đ1 800.000 đồng, Mai Hoàng P1 2.100.000 đồng, Nguyễn Văn Đ 7.000.000 đồng.

Tịch thu tiêu hủy: 02 bộ cựa bằng kim loại, 01 cân Nhơn Hoà loại 05 kilogam, 10 cuộn băng keo.

Các bị cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, không có ý kiến gì về nội dung Cáo trạng đã truy tố, ăn năn hối cải về hành vi của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
  2. Các bị cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt là tự nguyện, không trái pháp luật, việc vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo điểm c, d khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
  3. Lời khai nhận của các bị cáo trong hồ sơ phù hợp với nhau, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ có đủ cơ sở kết luận:
  4. Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 26/11/2023, tại bãi đất trống trong hẻm L, thuộc khu phố H, phường L, thành phố T, Nguyễn Trung P cùng Nguyễn Văn Đ làm trọng tài, canh gác, thu tiền xâu cho Nguyễn Minh V, Trương Văn T2, Nguyễn Văn T3, Giang Quốc H2, Trương Minh Đ1, Mai Hoàng P1, Lê Văn T6, Lương Đắc C2, Nguyễn Văn T8 đánh bạc dưới hình thức đá gà thắng thua bằng tiền với tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 10.000.000 đồng.

    Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

  5. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy đã tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
  6. Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm nhưng vì đam mê cờ bạc, các bị cáo rủ rê nhau rồi tụ tập dùng tiền để cá cược thắng thua bằng tiền thông qua hình thức đá gà, bị cáo P và bị cáo Đỗ giúp s cho các bị cáo còn lại đánh bạc nhằm thu tiền xâu. Hành vi của các bị cáo trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự, trị an tại địa phương, lỗi của các bị cáo là cố ý trực tiếp, do đó cần xử phạt các bị cáo mức án tương xứng nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
  7. Trong vụ án có vai trò đồng phạm, nhưng đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo P đứng ra làm trọng tài, thu tiền xâu, thể hiện vai trò cao hơn.
  8. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  9. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
  10. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Các bị cáo Văn Đ, Minh V, Văn T8, Văn T3, Quốc H2, Minh Đ1, Văn T6, Văn T8, Đắc C2 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ theo điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Bị cáo Đắc C2 có bố là thương binh, được tặng huân chương chiến sĩ giải phóng, gia đình thuộc hộ nghèo là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

  11. Về biện pháp tư pháp: Cần buộc bị cáo Nguyễn Trung P nộp lại số tiền thu lợi bất chính 1.800.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
  12. Về xử lý vật chứng:
    • - Số tiền 9.600.000 đồng các bị cáo sử dụng đánh bạc và 300.000 đồng tiền thu lợi bất chính của bị cáo Đỗ nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
    • 01 điện thoại di động kiểu dáng Oppo A95 màu đen, có chứa sim số 0399129971, 0395491328, 01 điện thoại di dộng kiểu dáng Galaxy A12 màu xanh dương đen, bể màn hình có chứa sim số 0963122841; 01 điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh sử dụng làm công cụ phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
    • - Số tiền 900.000 đồng của Nguyễn Văn T3, 1.7000.000 đồng của Giang Quốc H2, 950.000 đồng của Nguyễn Văn T8, 1.300.000 đồng của Lê Văn T6, 800.000 đồng của Trương Minh Đ1, 2.100.000 đồng của Mai Hoàng P1, 7.000.000 đồng của Nguyễn Văn Đ là tài sản của các bị cáo, không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho các bị cáo.
    • - 02 bộ cựa bằng kim loại, 01 cân Nhơn Hoà loại 05 kilogam, 10 cuộn băng keo là công cụ phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
  13. Đối với số tiền đặt để đảm bảo xử lý như sau: Của các bị cáo Nguyễn Minh V, Trương Văn T2, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Văn T8, Nguyễn Văn Đ sẽ được xử lý theo điểm c khoản 2 Điều 10; khoản 1 Điều 11 Chương III của Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 07/8/2018.
  14. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1, 3 Điều 321; Điểm s khoản 1 Điều 51; Các Điều 47, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo: Nguyễn Trung P, Mai Hoàng P1.
  • - Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Các Điều 47, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo: Nguyễn Minh V, Trương Văn T2, Nguyễn Văn T3, Trương Minh Đ1, Lê Văn T6, Nguyễn Văn T8, Giang Quốc H2, Nguyễn Văn Đỗ .
  • - Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Các Điều 47, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo: Lương Đắc C2.
  • - Các Điều 106, 136, 290 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
  • - Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

I. Về trách nhiệm hình sự:

1. Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Trung P, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Minh V, Trương Văn T2, Nguyễn Văn T3, Giang Quốc H2, Trương Minh Đ1, Mai Hoàng P1, Lê Văn T6, Lương Đắc C2, Nguyễn Văn T8 phạm tội “Đánh bạc”.

2. Xử phạt các bị cáo:

  1. Nguyễn Trung P 01 (một) năm 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được Quyết định thi hành án.
  2. Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Trung P 15.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

  3. Mai Hoàng P1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ, thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được Quyết định thi hành án.
  4. Phạt bổ sung bị cáo Mai Hoàng P1 10.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

  5. G1 35.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
  6. Nguyễn Văn Đ 30.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
  7. Nguyễn Minh V 25.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
  8. Trương Văn T2 25.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
  9. Nguyễn Văn T3 25.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
  10. Trương Minh Đ1 25.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
  11. Lê Văn T6 25.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
  12. Lương Đắc C2 25.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
  13. Nguyễn Văn T8 25.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

II. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Buộc bị cáo Nguyễn Trung P nộp số tiền 1.800.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

  • Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: Số tiền 9.900.000 đồng; 01 điện thoại di động kiểu dáng Oppo A95 màu đen, số IMEI1: 860541053574713, số IMEI2: 860541053574705 (không kiểm tra số imei và số sim); 01 điện thoại di dộng kiểu dáng Galaxy A12 màu xanh dương đen, bể màn hình, số IMEI1: 354813607424775, số IMEI2: 356766637424777; 01 điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh (không kiểm tra được số IMEI, sim).
  • Giao trả cho các bị cáo số tiền như sau: Nguyễn Văn T3 900.000 đồng, Giang Quốc H2 1.7000.000 đồng, Nguyễn Văn T8 950.000 đồng, Lê Văn T6 1.300.000 đồng, Trương Minh Đ1 800.000 đồng, Mai Hoàng P1 2.100.000 đồng, Nguyễn Văn Đ 7.000.000 đồng.
  • Tịch thu tiêu hủy: 02 bộ cựa bằng kim loại, 01 cân Nhơn Hoà loại 05 kilogam, 10 cuộn băng keo, sim số 0399129971 và sim số 0395491328 (gắn trong thoại di động kiểu dáng Oppo A95), 01 sim số 0963122841 (gắn trong điện thoại di dộng kiểu dáng Galaxy A12).

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22/04/2024 và ủy nhiệm chi ngày 22/4/2024)

III. Về án phí:

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

IV. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương
  • - VKSND, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND, CA TP Thuận An;
  • - Chi cục THADS TP Thuận An;
  • - Chánh án (để báo cáo);
  • - UBND xã, phường nơi các bị cáo
  • bị phạt cải tạo không giam giữ;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, THAHS, AV;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Anh Thi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 188/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về đánh bạc

  • Số bản án: 188/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Trung P, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Minh V, Trương Văn T, Nguyễn Văn T, Giang Quốc H, Trương Minh Đ, Mai Hoàng P, Lê Văn T, Lương Đắc C, Nguyễn Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger