TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 188/2024/HSST Ngày: 29/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Định.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Vân.
- Ông Huỳnh Văn Bé.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Quang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Đồng Quang Hải – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 199/2024/HSST, ngày 15 tháng 7 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 188/2024/QĐXXST-HS ngày 17/7/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Thanh T, sinh ngày 10/9/1987. Tại: Thành phố Hồ Chí Minh.
Nơi thường trú: Ấp L, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chỗ ở: Ấp L, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không có;
Trình độ văn hóa: 6/12;
Quốc tịch: Việt Nam;
Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không;
Con ông Phạm Văn C (chết) và bà Lê Thị P; Anh chị em ruột có 02 người (kể cả bị cáo), bị cáo có vợ tên Huỳnh Thanh T1 (đã ly hôn), có 02 con; lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2010.
Tiền án và Tiền sự: Không có.
Nhân thân:
Năm 2012, bị đưa đi cai nghiện bắt buộc 24 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy N theo Quyết định số 1054/QĐ-UBND ngày 30/11/2012 của Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến ngày 22/01/2015 chấp hành xong trở về địa phương.
Năm 2015, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng theo Quyết định số 76/QĐ-TA ngày 03/09/2015. Đến ngày 08/06/2018 chấp hành xong trở về địa phương.
Năm 2018, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 21 tháng theo Quyết định số 327/QĐ-TA ngày 25/10/2018. Đến ngày 07/05/2020 chấp hành xong trở về địa phương.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 12/4/2024 cho đến nay, hiện có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 19 giờ 00 phút ngày 11/04/2024, Công an xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành kiểm tra hành chính nhà nghỉ L1 tại địa chỉ ấp X, xã T, huyện C. Khi kiểm tra phòng số 06 thì phát hiện có Phạm Thanh T và Huỳnh Như N đang lưu trú. Tiếp tục kiểm tra trong túi xách bằng vải bố màu nâu của T thì phát hiện có 02 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy đá do T mua nhằm mục đích sử dụng cá nhân. Công an xã T tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T.
T khai nguồn gốc số ma túy trên là vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 11/04/2024, T thuê xe ôm đi từ nhà đến ngã ba Hồ N thuộc huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh để mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi, T gặp một người thanh niên tên L (Chưa rõ lai lịch) hỏi mua ma túy đá với giá 500.000 đồng, L đồng ý bán. T đưa cho L số tiền 500.000 đồng và nhận 01 bao thuốc lá hiệu Jet bên trong có 02 gói ma túy đá rồi để vào trong túi quần bên phải đi về nhà. Khi về đến nhà, T vứt bỏ bao thuốc Jet và lấy 02 gói ma túy đá cất giấu vào túi xách bằng vải bố màu nâu. Đến khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày, Huỳnh Như N (bạn bè quen biết ngoài xã hội) gọi điện thoại nhờ T đến nhà nghỉ L1 2 chở N về nhà, T đồng ý. Do không có xe nên T thuê xe ôm đến nhà nghỉ L1 và vào phòng số 6 ngồi chơi với N. N không biết T có cất giấu ma túy và T cũng không cho N biết, đến 19 giờ 00 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an xã T kiểm tra phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên.
Kết quả xét nghiệm ma túy: T dương tính với ma túy đá.
Tiến hành khám xét khẩn cấp tại nơi ở của Phạm Thanh T tại ấp L, xã T, huyện C không thu giữ được gì.
Kết luận giám định số 4691/KL-KTHS ngày 19/04/2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận:
Tinh thể được ký hiệu mẫu m cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,5513g (không phẩy năm năm một ba gam), loại Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số: 196/CT-VKS.CC ngày 15/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử bị can Phạm Thanh Tâm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thanh T thừa nhận việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo theo Cáo trạng số: 196/CT-VKS.CC ngày 15/7/2024 nêu trên là đúng với hành vi của bị cáo gây ra, không oan sai gì cho bị cáo và tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phạm Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tuy nhiên khi lượng hình phạt cho bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử cần xem xét các tình tiết sau:
Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.
Tình tiết tăng nặng: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phạm Thanh T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đề nghị tuyên bố: Bị cáo Phạm Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Phạm Thanh T mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) gói niêm phong mang số vụ 1406/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và giám định viên và 01 (Một) túi xách bằng vải bố màu nâu.
- + Tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia số Imel 1: 357705104285575, số Imel 2: 357705104285583.
Bị cáo Phạm Thanh T không tham gia tranh luận.
Bị cáo Phạm Thanh T nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa bị cáo Phạm Thanh T đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố, cụ thể:
Ngày 11/4/2024, Phạm Thanh T có hành vi mua 500.000 đồng chất ma túy của một người thanh niên tên L (không rõ lai lịch) để sử dụng, khi bị cáo mang số ma túy trên vào phòng số 6 nhà nghĩ Lunar 2 tại ấp X, xã T, huyện C thì bị lực lượng Công an xã T kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Qua giám định số ma túy thu giữ của bị cáo T là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5513g, loại Methamphetamine.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ có tại hồ sơ. Bằng những hành vi trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm các quy định của Nhà nước về quản lý dược liệu, dược phẩm độc hại, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội và tạo ra một dư luận xấu trong nhân dân.
Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng chỉ vì muốn có chất ma túy để sử dụng nhằm thỏa mãn cơn nghiện nên bị cáo đã bất chấp pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian cải tạo, cai nghiện ma túy và giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên cần xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng là phù hợp.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ:
Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, 03 lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng bị cáo vẫn tiếp tục sử dụng chất ma túy.
Tình tiết tăng nặng: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phạm Thanh T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
[5] Về vật chứng vụ án:
- - 01 (Một) gói niêm phong mang số vụ 1406/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và giám định viên và 01 (Một) túi xách bằng vải bố màu nâu là vật chứng vụ án không còn giá trị sử dụng, do đó tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
- - 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia số Imel 1: 357705104285575, số Imel 2: 357705104285583 là của bị cáo T, bị cáo không dùng vào việc phạm tội, tuy nhiên bị cáo không nhận lại, do đó tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước là phù hợp.
Căn cứ theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 lẽ ra cần phải phạt bị cáo T một khoản tiền để nộp vào Ngân sách Nhà nước, tuy nhiên xét thấy bị cáo T không có nghể nghiệp, mua chất ma túy để sử dụng không có thu lợi bất chính nên không phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
Đối với đối tượng tên L bán ma túy cho T (chưa rõ lai lịch), Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra thông báo truy tìm, đang tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau, Viện kiểm sát nhân dân huyện C thống nhất, Hội đồng xét xử xét thấy xử lý trên là phù hợp nên không xét.
Đối với Huỳnh Như N không biết việc T tàng trữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự, tuy nhiên N dương tính với chất ma túy nên Công an xã T, huyện C đã làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp nên không xét.
[6] Về nghĩa vụ chịu án phí:
Căn cứ vào Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Bị cáo Phạm Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Phạm Thanh T 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/4/2024.
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) gói niêm phong mang số vụ 1406/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và giám định viên và 01 (Một) túi xách bằng vải bố màu nâu.
Tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia số Imel 1: 357705104285575, số Imel 2: 357705104285583.
Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Buộc bị cáo Phạm Thanh T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 và 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang Định |
Bản án số 188/2024/HSST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 188/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thanh T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
