TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 188/2024/HS-ST Ngày: 28 - 8 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán sơ cấp - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quang Tuyến
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Nguyễn Đức Lưu
- 2. Bà Nguyễn Thị Mai
- - Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Oanh - Kiểm sát viên sơ cấp.
Ngày 24/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:171/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 177/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
1.Họ và tên: Mai Thị T, sinh năm 1988; Hộ khẩu thường trú và nơi ở: Phố Y, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Mai Văn T1 và bà Trần Thị S; Gia đình có 05 chị em, bị cáo là con thứ 2; Chồng Vũ Văn Đ sinh năm 1982 (đã ly hôn).
Tiền án, tiền sự: Theo D chỉ bản số 417 lập ngày 10/5/2024 của Công an huyện Đ, thành phố Hà Nội bị cáo có 02 tiền án:
- Ngày 15/4/2021 bị Toà án nhân dân huyện Đông Anh, Hà Nội xử phạt 40 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Ngày 31/8/2023 chấp hành xong bản án, án hiện chưa được xoá, lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm.
- Ngày 10/11/2008 bị Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn xử phạt 09 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Ngày 06/4/2015 chấp hành xong bản án, án đã được xoá.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/5/2024 đến nay tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H.
Có mặt tại phiên tòa.
2.Họ và tên: Trần Văn P, sinh năm 1991; Hộ khẩu thường trú và nơi ở: Phố Y, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Văn B và bà Bùi Thị K; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ 2; Vợ con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Theo D chỉ bản số 416 lập ngày 10/5/2024 của Công an huyện Đ, thành phố Hà Nội bị cáo có 01 tiền sự: Ngày 09/11/2020 bị Toà án nhân dân huyện Mê Linh, Hà Nội áp dụng biện pháp đi cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 18 tháng. Ngày 20/5/2022 chấp hành xong, đã được xoá.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/5/2024 đến nay tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H.
Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 1. Anh Đỗ Đình H, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Khu E, thôn T, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
- Vắng mặt tại phiên tòa.
- 2. Anh Trần Văn B1, sinh năm 1969; Nơi cư trú: Phố Y, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội.
- Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 45 phút ngày 02/5/2024, tổ công tác Công an thị trấn Đ làm nhiệm vụ tại khu vực gầm cầu vượt K1 thuộc thôn B, xã K, huyện Đ, Hà Nội, phát hiện Mai Thị T, Trần Văn P và Đỗ Đình H, Nguyễn Hùng T2, sinh năm 1975; thường trú Số 2 ngách A, ngõ G, B, quận H, Hà Nội có biểu hiện nghi vấn, tổ công tác đã tiến hành kiểm tra khám người theo thủ tục hành chính đối với Mai Thị T, phát hiện thu giữ trong lòng bàn tay phải T một gói giấy màu trắng bên trong có 01 túi ni lông màu trắng, kích thước (4x8)cm chứa một viên nén màu đỏ và tinh thể màu trắng là ma túy Methamphetamine. Trong lòng bàn tay trái của T có 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi Note 8, lắp sim số thuê bao 096.569.3xxx;
Khám người theo thủ tục hành chính đối với Trần Văn P phát hiện trong túi quần phía trước bên trái của P 200.000 đồng và 01 điện thoại Iphone 6, màu xám, lắp sim số thuê bao 052.334.7xxx;
Khám người theo thủ tục hành chính đối với Đỗ Đình H phát hiện 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, lắp sim số thuê bao 096.318.1xxx và số tiền 600.000 đồng trong túi quần phía trước bên phải;
Khám người theo thủ tục hành chính đối với Nguyễn Hùng T2 phát hiện trong túi quần bên trái có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đen, lắp sim số thuê bao 096.460.5xxx.
Khám phương tiện chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS: 30N8-3589 của P và chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Visson BKS: 29E2-454.75 của Nguyễn Hùng T2 không phát hiện thu giữ gì.Tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ, niêm phong vật chứng, đưa các đối tượng về trụ sở điều tra làm rõ.
Vật chứng thu giữ:
- 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi Note 8, lắp sim số thuê bao 0965.693.971.
- 01 điện thoại Iphone 6, màu xám lắp sim số thuê bao 0523347315.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, lắp sim số thuê bao 0963.181.145.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đen, lắp sim số thuê bao 0964.605.489.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu xanh-nâu-đen, biển kiểm soát: 29E-454.75.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, biển kiểm soát: 30N8-3589.
- Số tiền 800.000 đồng
Xét nghiệm ma túy trong nước tiểu kết quả Mai Thị T, Trần Văn P dương tính với chất ma túy; Đỗ Đình H, Nguyễn Hùng T2 âm tính với chất ma túy.
Quá trình điều tra làm rõ:
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 02/5/2024, Trần Văn P ngồi uống nước cùng Đỗ Đình H tại khu vực bến xe bus thuộc xã N, Đ, Hà Nội. H có nhu cầu sử dụng ma túy nhưng không biết chỗ mua nên H đặt vấn đề với P, hỏi P có biết chỗ bán ma túy thì mua cho H 600.000 đồng ma túy gồm ma túy “đá” và 01 viên ma túy “ngựa” (tức đều là loại ma tuý M), H sẽ cho P ma túy để sử dụng, P đồng ý, do P có chị họ là Mai Thị T vừa đi chấp hành án về tội Mua bán trái phép chất ma túy về, P và T đã từng nhiều lần cùng sử dụng ma tuý với nhau, P đã sử dụng số điện thoại 0523.347.xxx gọi đến số điện thoại 0965.693.xxx của T nói: Chị có lấy được ma tuý không, về để bán lấy lời hai chị em cùng sử dụng. Do T có sẵn ma tuý đã mua để ở nhà T đồng ý, P đặt vấn đề mua 500.000 đồng ma túy “đá”, 100.000 đồng ma túy “ngựa” (tức đều là ma tuý loại Methamphetamine) và hẹn điểm giao ma tuý tại khu vực cầu vượt K, huyện Đ, Hà Nội. T đồng ý và yêu cầu P trả thêm cho T 200.000 đồng tiền công, T cho P số tài khoản 0367695931 ngân hàng V để P chuyển khoản số tiền 800.000 đồng (gồm 600.000 đồng ma túy và 200.000 đồng công vận chuyển), nhưng P nói không chuyển khoản vì P không có tài khoản ngân hàng, T đồng ý. T thuê Nguyễn Hùng T2 lái xe ôm chở đến điểm hẹn. Đến nơi, T liên lạc với P, rồi chờ một lúc thì P cùng H đến. T và P chưa kịp giao dịch thì bị Công an kiểm tra phát hiện.
Tại kết luận giám định số 3262 ngày 11/5/2024 của Phòng K2 - Công an thành phố H kết luận:
- 01 tờ giấy màu trắng bọc bên ngoài 01 túi nilon bên trong có:
- + 01 viên nén màu đỏ có khối lượng 0,095 gam là ma túy loại Methamphetamine.
- + Tinh thể màu trắng có khối lượng 0,332 gam là ma túy loại Methamphetamine.
Xử lý vật chứng:
Đều là vật chứng vụ án Cơ quan điều tra chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh để giải quyết theo thẩm quyền.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu xanh-nâu-đen, biển kiểm soát: 29E-454.75 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đen, lắp sim số thuê bao 0964.605.489. Cơ quan điều tra làm rõ chủ sở hữu là anh Nguyễn Hùng T2, không liên quan đến vụ án. Ngày 17/6/2024 Cơ quan điều tra ra quyết định xử lý vật chưng trả lại cho anh H1.
Tại cơ quan điều tra Mai Thị T, Trần Văn P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên. Lời khai của T và P phù hợp với lời khai của Đỗ Đình H, Nguyễn Hùng T2 và các tài liệu điều tra khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Mai Thị T khai nhận nguồn gốc số ma túy đem bán cho P, T mua 500.000 đồng của một người đàn ông không quen biết, đứng ven đường gần khu vực gần bệnh viện 108 cách ngày bị bắt khoảng 02 ngày. T và P đã từng cùng sử dụng ma túy với nhau nhưng T không nhớ thời gian và địa điểm cụ thể.
Đối với anh Nguyễn Hùng T2 lái xe ôm có hành vi chở T đi bán ma tuý, nhưng anh T2 không biết, Cơ quan điều tra không xử lý.
Đối với người bán ma túy cho T, do T không biết tên, tuổi, địa chỉ cũng không xác định được vị trí mua ma túy, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.
Đối với Đỗ Đình H mục đích đi mua ma tuý về để sử dụng. Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu liên quan cho chính quyền địa phương nơi H cư trú để theo dõi quản lý theo thẩm quyền.
Tại cáo trạng số 168/CT-VKS ngày 09/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội đã truy tố: Mai Thị T và Trần Văn P tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017).
Tại phiên tòa,
Các bị cáo khai nhận tội như cáo trạng đã nêu. Bị cáo Mai Thị T xác định các lần phạm tội trước của bị cáo tại các bản án đều có nhân thân sinh năm 1987 chính là bị cáo bây giờ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h, khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi năm 2017), đối với bị cáo Mai Thị T. Xử phạt: Mai Thị T từ 36 đến 42 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi năm 2017), đối với bị cáo Trần Văn P. Xử phạt: Trần Văn P từ 30 đến 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 800.000 đồng và các điện thoại di động thu giữ của bị cáo và đối tượng liên quan dùng vào việc liên lạc để mua bán ma túy. Không phạt tiền bị cáo.
- Trả lại ông Trần Văn B1 chiếc xe máy nhãn hiệu Honđa Wave màu đỏ, biển kiểm soát: 30N8-3589, số khung RLHHC1200AY142817, số máy HC12E2642858.
- Không phạt tiền các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng của huyện Đ thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền và các quy định khác về điều tra, truy tố và xét xử.
[2]. Về hành vi và tội danh: Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các đối tượng liên quan, được thẩm tra tại phiên tòa. Được chứng minh bằng các vật chứng của vụ án và số Methampphetaminne thu giữ của các bị cáo có đủ cơ sở kết luận: Hồi 16 giờ 45 phút ngày 02/5/2024 tại khu vực gầm cầu vượt K1 thuộc thôn B, xã K, huyện Đ, Hà Nội, Mai Thị T có hành vi bán trái phép 0,427 gam ma túy loại Methamphetamine cho Trần Văn P, đã bị tổ công tác Công an thị trấn Đ phát hiện bắt giữ người cùng tang vật. Trần Văn P có hành vi đồng phạm giúp sức Mai Thị T trực tiếp giao dịch mua 0,427 gam ma tuý loại Methamphetamine của Mai Thị T cho Đỗ Đình H mục đích được Đỗ Đình H trả công bằng ma tuý để P và Mai Thị T cùng sử dụng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thái D1 ngày 30/4/2024 đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”
[3]. Về nhân thân, tiền án, tiền sự và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- - Về tiền án, tiền sự: Bị cáo Mai Thị T có 02 tiền án. Bị cáo Trần Văn P có 01 tiền sự đã được xoá.
- - Về nhân thân: Xác định các bị cáo có nhân thân
- - Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Khi lượng hình, Tòa án đã xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo để từ đó có hình phạt tương xứng với mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể:
- + Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Mai Thị T phạm tội lần này là tái phạm nên bị áp dụng tình tiết tăng năng theo điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- + Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Mai Thị T, Trần Văn P thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ, cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, của Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
[4]. Về hình phạt:
Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến chính sách đặc quyền quản lý của nhà nước về các chất độc hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Bị cáo là người đã thành niên, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, gây nguy hại cho xã hội và bị nhà nước quy định là tội phạm. Các bị cáo Mai Thị T, Trần Văn P nhận thức được ma túy là chất độc dược gây nghiện, nó hủy hoại sức khỏe con người, là nguyên nhân gây ra các căn bệnh xã hội trong đó có HIV/AIDS và các tội phạm khác nhưng vì tư lợi mà các bị cáo đã liều lĩnh mua bán chất ma túy là loại chất do Nhà nước độc quyền quản lý. Đây là vụ án mua bán trái phép chất ma túy mang tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã thể hiện ý thức coi thường pháp luật, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn huyện Đ cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo nhằm hạn chế các loại tội phạm ma túy trên địa bàn huyện Đ nói riêng và thành phố Hà Nội nói chung. Do đó, áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt tù có thời hạn với các bị cáo, xử phạt bị cáo hình phạt tù trong khung hình phạt cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định, thì người phạm tội có thể còn bị phạt tiền...Tuy nhiên, xét trong trường hợp này các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[5]. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
- Cần tịch thu tiêu hủy: Số Methamphetamine thu giữ của bị cáo.
- Đối với số tiền thu giữ của bị cáo và đối tượng liên quan cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- Đối với các điện thoại di động thu giữ của các bị cáo và các người liên quan dùng vào việc liên lạc để mua bán ma túy cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Trả lại ông Trần Văn B chiếc xe máy nhãn hiệu Honđa Wave màu đỏ, biển kiểm soát: 30N8-3589, số khung RLHHC1200AY142817, số máy HC12E2642858 của bị cáo Trần Văn P.
- Xử lý vật chứng như vậy là đúng với quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự áp dụng đối với bị cáo Mai Thị T.
- - Khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự áp dụng đối với bị cáo Trần Văn P.
- - Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án cùng danh mục kèm theo.
Tuyên bố: Các bị cáo Mai Thị T và Trần Văn P phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt:
- Mai Thị T: 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/5/2024.
- Trần Văn P: 33 (ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/5/2024.
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong dán kín có chữ ký của giám định viên, của Mai Thị T và cán bộ niêm phong bên trong có chứa 0,377 gam Methamphetamine (còn lại sau giám định)
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Các điện thoại di động thu giữ của các bị cáo và các người liên quan dùng vào việc liên lạc để mua bán ma túy.
Trả lại ông Trần Văn B chiếc xe máy nhãn hiệu Honđa Wave màu đỏ, biển kiểm soát: 30N8-3589, số khung RLHHC1200AY142817, số máy HC12E2642858 của bị cáo Trần Văn P.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09/8/2024 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh).
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Số tiền 800.000. đồng. đã nộp theo Ủy nhiệm chi vào tài khoản số 3949.0.1047882.0000 tại Kho bạc Nhà nước huyện Đ ngày 12 tháng 8 năm 2024.
Các bị cáo Mai Thị T và Trần Văn P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm. Các bị cáo và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quang Tuyến |
Bản án số 188/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 188/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tòa án nhân dân huyện Đông Anh xét xử vụ án Mua bán trái phép chất ma túy
