|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 188/2024/DS-ST
Ngày: 28/5/2024.
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Cành.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Phú Minh Thông.
- Ông Nguyễn Đình Phúc.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Phương Thảo, là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Oanh – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 992/2023/DSST ngày 12/10/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4158/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 5684/2024/QĐST-DS ngày 02 tháng 5 năm 2024, giữa:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.
Trụ sở: Số A T, phường L, quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của Nguyên đơn: Ông Lê Thanh T, sinh năm 1988, hoặc ông Phạm Ngọc T1.
Địa chỉ liên hệ: H T, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh, (theo Giấy uỷ quyền số 2860/2022/UQ-SeABank ngày 03/3/2022).
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Diệu H, sinh năm 1972.
Địa chỉ: Số B N, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Vắng mặt bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện,tại các bản khai trong quá trình chuẩn bị xét xử, ông Lê Thanh T là người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn - Ngân hàng TMCP Đ trình bày:
Ngày 13/7/2022, Bị đơn - bà Nguyễn Thị Diệu H có ký và thực hiện Hợp đồng cho vay từng lần số REF2219300186/HDTD/HMT-NTDH với Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ - Chi nhánh H2 để vay số tiền là 7.950.000.000 đồng cho mục đích vay tiêu dùng, thời hạn vay vốn từ ngày 15/7/2022 đến ngày 15/7/2032. Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 10,39%/năm cố định trong 12 tháng kể từ ngày giải ngân. Khi hết thời hạn trên, lãi suất trong hạn sẽ được điều chỉnh định kỳ vào ngày làm việc đầu tiên của mỗi quý khi có sự thay đổi của lãi suất cơ sở do Ngân hàng ban hành từng thời kỳ. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 15/7/2023, điều chỉnh sau đó vào ngày làm việc đầu tiên của quý liền kề tiếp theo. Mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng lãi suất cơ sở Ngân hàng đang áp dụng tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 5,19%/năm. Bên vay sẽ trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng theo định kỳ 01 tháng/lần vào ngày 15. Kỳ trả nợ đầu tiên vào ngày 15/8/2022.
Để bảo đảm khả năng thanh toán cho khoản vay, ngày 13/7/2022 Bị đơn ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số REF2219300186/HDTC/HMT-NTDH/1 với Nguyên đơn. Tài sản thế chấp tại thửa đất số 156, tờ bản đồ số 14, tại xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào sổ cấp GCN số CS19038 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 25/8/2021, cập nhật chuyển nhượng vào ngày 11/7/2022 cho bà Nguyễn Thị Diệu H. Hợp đồng thế chấp được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật.
Quá trình thực hiện hợp đồng, Bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc, lãi cho Nguyên đơn kể từ ngày 15/11/2022. Nguyên đơn đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu Bị đơn thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán nhưng Bị đơn không có thiện chí chi trả.
Tính đến ngày 28/5/2024, Bị đơn chỉ thanh toán cho Nguyên đơn tổng số tiền là 339.029.777 đồng (gồm nợ gốc là 131.647.582 đồng, nợ lãi trong hạn là 207.243.607 đồng và nợ lãi quá hạn là 138.588 đồng). Do Bị đơn vi phạm nghĩa vụ hợp đồng tín dụng, Nguyên đơn đã yêu cầu Bị đơn thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm theo đúng Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số REF2219300186/HDTC/HMT-NTDH/1 ngày 13/7/2022. Tuy nhiên Bị đơn không thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp, không hợp tác, cố ý không thực hiện nghĩa vụ và không bàn giao tài sản bảo đảm cho Nguyên đơn xử lý theo đúng thỏa thuận.
Nhận thấy việc Bị đơn không thực hiện nghĩa vụ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Nguyên đơn. Do đó, Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Bị đơn thanh toán tổng số tiền tạm tính đến ngày 28/5/2024 là 9.511.717.796 đồng (bao gồm nợ gốc 7.818.352.418 đồng; nợ lãi trong hạn là 1.488.988.944 đồng và nợ lãi quá hạn là 204.376.434 đồng). Nợ lãi tiếp tục phát sinh cho đến khi Bị đơn thanh toán xong toàn bộ khoản vay.
Trường hợp Bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán nợ thì Nguyên đơn yêu cầu được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất tại Thửa đất số 156, tờ bản đồ số 14 thuộc xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào sổ cấp GCN số CS19038 do Sở T cấp ngày 25/8/2021, được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện X, tỉnh Đồng Nai xác nhận chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Diệu H ngày 11/7/2022 để thu hồi nợ.
Bà Nguyễn Thị Diệu H là Bị đơn, trong quá trình chuẩn bị xét xử đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng, triệu tập tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải; triệu tập tham gia phiên toà đến lần thứ hai nhưng đều vắng mặt không có lý do, không giao nộp văn bản trình bày ý kiến và chứng cứ phản đối yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi mở phiên tòa xét xử theo trình tự sơ thẩm cho đến khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đã chấp hành đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng. Bị đơn đã được nguyên đơn giải ngân đúng số tiền trong hợp đồng vay. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền gốc và tiền lãi là đúng quy định tại Điều 463, 466; Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn trả nguyên đơn tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày xét xử 28/5/2024 là 9.511.717.796 đồng. Trường hợp bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ thì Nguyên đơn được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản đã thế chấp theo hợp đồng đã ký.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về pháp luật tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Xét yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn đòi bị đơn thanh toán nợ gốc và lãi, yêu cầu Tòa án xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi dư nợ theo hợp đồng cho vay từng lần là tranh chấp phát sinh trong hoạt động cấp tín dụng của Nguyên đơn. Bị đơn có địa chỉ tại 2 N, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 1, Tp . theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Về việc ủy quyền tham gia tố tụng:
Nguyên đơn ủy quyền cho ông Lê Thanh T và ông Phạm Ngọc T1 thay mặt Nguyên đơn tham gia tố tụng để thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự là phù hợp với quy định tại Điều 85, Điều 86 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[1.3] Về việc xét xử vắng mặt đương sự:
Căn cứ kết quả cung cấp chứng cứ của Công an P, quận B; Công an xã T, huyện B; Công an phường T, Quận A, có cơ sở xác định Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại 2 N, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không thực tế cư trú tại địa chỉ trên, hiện không rõ nơi thực tế cư trú. Xét Bị đơn thay đổi địa chỉ cư trú nhưng không thông báo cho Nguyên đơn biết được xem là cố tình giấu địa chỉ. Toà án tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung, xác định địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của bị đơn theo địa chỉ đăng ký thường trú, thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập Bị đơn tham gia phiên toà đến lần thứ hai nhưng bị đơn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử mở phiên toà vắng mặt Bị đơn theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về pháp luật nội dung:
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn:
[2.1.1] Về yêu cầu Bị đơn thanh toán nợ gốc là 7.818.352.418 đồng.
Căn cứ tài liệu, chứng cứ do Nguyên đơn giao nộp có cơ sở để xác định Bị đơn có ký Hợp đồng cho vay từng lần số REF2219300186/HDTC/HMT-NTDH/1 ngày 13/7/2022 để vay tiêu dùng từ Nguyên đơn số tiền 7.950.000.000 đồng; thời hạn vay từ ngày 15/7/2022 đến ngày 15/7/2032; Bị đơn yêu cầu Nguyên đơn thực hiện giải ngân toàn bộ số tiền trên bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản số [...] của Nguyễn Trung H1 mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ- P1. Hình thức và nội dung hợp đồng cho vay phù hợp quy định của pháp luật làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo quy định tại Điều 91, Điều 94 và Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng. Quá trình thực hiện hợp đồng cho vay, ngày 13/7/2022, ông Nguyễn Trung H1 xác nhận đã nhận được từ Nguyên đơn số tiền 7.950.000.000 đồng. Đến nay, Bị đơn đã thanh toán cho Nguyên đơn tổng số tiền nợ gốc là 131.647.582 đồng và không thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ trả nợ gốc đối với dư nợ gốc còn lại. Căn cứ theo thỏa thuận tại hợp đồng cho vay, Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn.
[2.1.2] Về yêu cầu Bị đơn thanh toán tiền lãi trong hạn.
Xét, do vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ ngày 15/11/2022 nên Bị đơn có nghĩa vụ trả cho Nguyên đơn nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn. Việc tính lãi trong hạn, lãi quá hạn đến ngày xét xử của Nguyên đơn phù hợp với mức lãi suất trong hạn và quá hạn quy định tại khoản 7 Điều 2 của hợp đồng và khoản 14 Điều 4; khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay. Bị đơn nhận nợ gốc từ ngày 13/7/2022, và chỉ thực hiện thanh toán nợ lãi trong hạn với tổng số tiền 207.243.607 đồng là vi phạm nghĩa vụ thanh toán tại hợp đồng. Do đó Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn thanh toán nợ lãi trong hạn số tiền 1.488.988.944 đồng là có cơ sở chấp nhận.
[2.2] Về yêu cầu Bị đơn thanh toán tiền lãi quá hạn:
Xét, Bị đơn đã thanh toán cho Nguyên đơn tiền gốc và lãi từ ngày 15/7/2022 đến ngày 15/11/2022, nợ gốc là 131.647.582 đồng, nợ lãi trong hạn là 207.243.607 đồng, sau đó không thanh toán nữa. Do đó, Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn thanh toán tiền lãi quá hạn được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.3]. Xét, Bị đơn đứng tên là Bên vay vốn trong Hợp đồng cho vay từng lần số REF2219300186/HDTD/HMT-NTDH ngày 13/7/2022, Nguyên đơn thực hiện giải ngân, cho vay vào tài khoản thụ hưởng do Bị đơn chỉ định. Trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn xác định chỉ yêu cầu Bị đơn thực hiện trách nhiệm thanh toán nợ. Do đó, Hội đồng xét xử xác định trách nhiệm thanh toán toàn bộ các khoản nợ theo Hợp đồng cho vay từng lần số REF2219300186/HDTD/HMT-NTDH ngày 13/7/2022 là của Bị đơn.
[2.4] Về tài sản bảo đảm:
[2.4.1] Tài sản bảo đảm cho Hợp đồng cho vay từng lần số REF2219300186/HDTD/HMT-NTDH ngày 13/7/2022 là thửa đất số 156, tờ bản đồ số 14, địa chỉ tại xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai (theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào sổ cấp GCN số CS19038 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 25/8/2021, cập nhật chuyển nhượng vào ngày 11/7/2022 cho bà Nguyễn Thị Diệu H) theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số REF2219300186/HDTC/HMT-NTDH/1 ngày 13/7/2022.
[2.4.2] Xét, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số REF2219300186/HDTC/HMT-NTDH/1 ngày 13/7/2022 lập tại Văn phòng C1, tỉnh Đồng Nai được chứng nhận công chứng số 008788, quyển số 14/2022TP/CC-SCC/HĐGD và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ là đúng quy định, nên hợp đồng thế chấp có giá trị pháp lý. Bên nhận thế chấp là Nguyên đơn và bên thế chấp là Bị đơn đã ký kết Hợp đồng thế chấp tài sản, đăng ký giao dịch bảo đảm và được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ, chứng nhận ngày 13/7/2022. Tài sản bảo đảm đã được Tòa án xem xét, thẩm định tại chỗ theo quy định pháp luật.
[2.4.3] Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ lập ngày 02/4/2024 thì quyền sử dụng đất tại địa chỉ thửa đất số 156, tờ bản đồ số 14, địa chỉ tại xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai không thay đổi hiện trạng so với Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DC 363724, vào sổ cấp GCN CS19038 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 25/8/2021.
[2.4.4] Xét thấy các bên đã lập Hợp đồng thế chấp và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện X, tỉnh Đồng Nai đã cập nhật việc thế chấp vào Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DC 363724, vào sổ cấp GCN CS19038 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 25/8/2021 là đúng quy định tại các Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 321, Điều 322, Điều 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nên hợp đồng thế chấp có giá trị pháp lý, phát sinh hiệu lực.
Nguyên đơn yêu cầu trong trường hợp Bị đơn không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp nói trên là phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp mà các bên đã giao kết, nên có cơ sở chấp nhận.
[3] Theo khoản 2 Điều 9 của Hợp đồng thế chấp “S có nghĩa vụ trả lại giấy tờ về tài sản thế chấp sau khi bên thế chấp đã hoàn thành mọi nghĩa vụ với S”. Do đó, trường hợp khoản nợ gốc và lãi của Hợp đồng cho vay được thanh toán đầy đủ thì Nguyên đơn có nghĩa vụ giải chấp và trả lại Bị đơn bản chính giấy tờ thế chấp cho Nguyên đơn gồm: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DC 363724, vào sổ cấp GCN CS19038 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 25/8/2021;
[4] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn có nghĩa vụ trả lại nguyên đơn chi phí đã nộp.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tính trên số tiền phải trả cho Nguyên đơn. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn lại cho Nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 280, 299, 302, 317, 318, 319, 320, Điều 321, Điều 322, Điều 323, Điều 336, Điều 339, Điều 340, Điều 342, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Căn cứ các Điều 7, 8, 12, 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và Thông báo số 15/TB-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc đính chính Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014;
Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ:
Buộc bà Nguyễn Thị Diệu H phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền còn lại của Hợp đồng cho vay từng lần số REF2219300186/HDTD/HMT-NTDH ngày 13/7/2022 tạm tính đến ngày 28/5/2024 là 9.511.717.796 đồng (bao gồm nợ gốc 7.818.352.418 đồng, nợ lãi trong hạn là 1.488.988.944 đồng và nợ lãi quá hạn là 204.376.434 đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 29/5/2024) cho đến khi thi hành án xong, bà Nguyễn Thị Diệu H còn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng cho vay từng lần số REF2219300186/HDTD/HMT-NTDH ngày 13/7/2022 đã ký giữa hai bên.
Trường hợp nợ gốc và lãi của Hợp đồng cho vay được bà Nguyễn Thị Diệu H thanh toán đầy đủ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ phải trả cho bà Nguyễn Thị Diệu H bản chính các giấy tờ liên quan đến nhà ở và quyền sử dụng đất tại địa chỉ thửa đất số 156, tờ bản đồ số 14, tại xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai, gồm: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DC 363724, vào sổ cấp GCN CS19038 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 25/8/2021;
Nếu bà Nguyễn Thị Diệu H không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ trên thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản bảo đảm là thửa đất số 156, tờ bản đồ số 14, địa chỉ tại xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai thuộc quyền sử dụng của bà Nguyễn Thị Diệu H (Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DC 363724, vào sổ cấp GCN CS19038 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 25/8/2021) theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số REF2219300186/HDTC/HMT-NTDH/1 ngày 13/7/2022 để thu hồi nợ.
Các bên thi hành dưới sự giám sát của cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Bà Nguyễn Thị Diệu H có nghĩa vụ trả lại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu đồng).
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Diệu H phải chịu án phí là 117.511.718 đồng (một trăm mười bảy triệu, năm trăm mười một ngàn, bảy trăm mười tám đồng).
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 58.056.366 đồng theo Biên lai thu tiền số AA/2023/0044678 ngày 12/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Tp ..
4. Về quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phan Văn Cành |
Bản án số 188/2024/DS-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 188/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn thanh toán dư nợ tín dụng và xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ
