Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỦY NGUYÊN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 188/2024/HS-ST

Ngày 23-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Minh Huế

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Ngô Thị Thu Hà

Ông Hoàng Đức Cảnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 123/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 171/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 và Thông báo về việc thay đổi người tham gia tố tụng số: 19/TB-TA ngày 16 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn G, sinh ngày 11 tháng 4 năm 1984 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn A, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị N; có vợ là Nguyễn Thị Á và có 03 con; tiền sự: Không; tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 77/2023/HS-ST ngày 08 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G 12 tháng tù cho hưởng án treo 24 tháng thử thách về tội: “Đánh bạc”. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (chưa được xóa án tích); bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21 tháng 3 năm 2024 đến nay; có mặt.

- Bị hại: Chị Bùi Thị N1, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn H, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn dân sự: Anh Nguyễn Hoàng A, sinh năm 1999; địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Người làm chứng: Anh Đinh Ngọc V.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ 05 phút ngày 23 tháng 10 năm 2023 tại đường liên xã thuộc địa phận thôn E, xã T, huyện T, xảy ra vụ tai nạn giao thông giữa xe ô tô tải BKS: 15H-063.20 do Nguyễn Văn G điều khiển theo hướng từ đường B, thị trấn N, huyện T rẽ phải vào đường liên xã thuộc thôn E, xã T, huyện T với xe mô tô BKS 15G1-390.33 do chị Bùi Thị N1 điều khiển đi phía trước. Hậu quả, chị N1 bị thương tích được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện H, xe mô tô BKS 15G1-390.33 bị hư hỏng nhẹ.

Tiến hành khám nghiệm hiện trường, dựng lại hiện trường, Cơ quan điều tra ghi nhận các dấu vết: Hiện trường chung là khu vực ngã tư đường liên xã đoạn thuộc thôn E, xã T, huyện T. Mặt đường rộng 9m, được trải nhựa apphalt thẳng phẳng, có vạch kẻ nét đứt màu vàng ở giữa phân chia 02 chiều đường, đường rộng 10m, mặt đường khô ráo. Hiện trường được khám nghiệm theo hướng từ Khu đô thị G, thị trấn N, huyện T đi trường THPT B2, xã T, huyện T. Điểm mốc được xác định là biển báo hạn chế trọng tải xe được cắm trên lề đường phải theo hướng khám nghiệm. Một xe ô tô BKS: 15H-063.20 đỗ trên mặt đường, đầu xe quay về hướng khám nghiệm, hơi chếch vào lề trái đường, đuôi xe chếch ra tim đường. Trục bánh xe thứ nhất phía trước bên trái cách lề trái đường 01m, cách điểm mốc 2,1m và tương ứng với trục bánh trước xe mô tô BKS: 15G1-390.33, trục bánh xe thứ 3 phía sau bên trái cách lề đường trái 2,9m. Một xe mô tô BKS: 15G1-390.33 đổ nghiêng trái trên mặt đường, và nằm dưới đầu xe ô tô tải BKS: 15H-063.20, đầu xe chếch vào lề đường trái, trục bánh xe phía trước và trục bánh xe phía sau cách lề đường trái lần lượt là 1,3m và 2,4m. Một vết cày xước đứt đoạn trên mặt đường dài 12,6m. Điểm đầu vết cày xước cách lề trái đường theo hướng khám nghiệm là 8,3m, điểm cuối vết cày xước nằm dưới bàn để chân phía sau bên trái xe mô tô BKS: 15G1-390.33.

Tại Bản kết luận giám định số 118/2024/KLTTCT-TTPYHPngày 02 tháng 02 năm 2024 của Trung tâm Pháp y thành phố H kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Bùi Thị N1 tại thời điểm giám định là 79%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư, trong đó: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vỡ bàng quang đã phẫu thuật gây nên là 25%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo lớn phẫu thuật vùng bụng gây nên là 03%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do 02 vết mổ dẫn lưu hai bên hố chậu gây nên là 01% và 01%; Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do 06 sẹo nhỏ rải rác vùng mông đùi phải gây nên là 01%; 01%; 01%; 01%; 01%; 01%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo lớn vùng sườn bụng, mông đùi phải có phá hủy một phần cơ thành bụng và cơ mông to gây nên là 13%. Tỷ lệ phần tăm tổn thương cơ thể do sẹo lấy da vá đùi phải gây nên là 01%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do 09 sẹo nhỏ rải rác mông đùi trái gây nên là 01%; 01%; 01%; 01%; 01%; 01%; 01%; 01%; 01%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết thương lớn mông đùi trái gây nên là 03%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo lấy da vá đùi trái gây nên là 02%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết thương kẽ ngón 1- bàn chân trái gây nên là 01%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do gãy xương sườn 12 hai bên gây nên là 02% và 02%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do gãy 05 gai ngang đốt sống thắt lưng gây nên là 24%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể dõ gãy xương cùng gây nên là 05%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do gãy ngành ngồi mu hai bên gây nên là 13% và 13% Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do gãy ngành lên xương mu hai bên gây nên là 18%.

Tiến hành khám nghiệm các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn, Cơ quan điều tra thu thập các dấu vết:

  • - Xe ô tô BKS 15H-063.20: mặt ngoài ốp cản trước đầu xe bên phải bị mài xước sơn kích thước (18x8)cm trên bề mặt bám dính tạp chất màu xám trắng. Điểm cao nhất cách đất 78cm. Mặt trước trục khớp nối bánh xe hai bên bị mài xước kim loại trên diện 7x3cm. Trên bề mặt bám dính tạp chất dạng nhựa trắng.
  • - Xe mô tô BKS 15G1-390.33: mặt ngoài đầu núm tay phanh bị mài vẹt kim loại kích thước (01x01)cm. Mặt ngoài phía trên cánh yếm xe bên phải mài xước nhựa kích thước (08x02)cm, điểm cao nhất cách đất 70cm. Mặt ngoài bàn để chân phía trước bên phải bị mài xước nhựa trên diện kích thước (35x04)cm. Mặt ngoài bàn để chân phía sau bên phải bị mài xước kim loại chiều từ trước về sau kích thước (06x04)cm. Mặt ngoài phía trước bên phải thanh dắt bị mài xước trên diện 09cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 75cm. Mặt ngoài ốp bảo vệ ống xả bị mài xước nhựa trên diện (25x03)cm theo chiều từ trên xuống dưới. Mặt ngoài ốp chắn bùn phía sau (vị trí gắn biển số) có vết mài trượt sạch bụi trên diện kích thước (14x08)cm, điểm cao nhất cách đất 66cm. Mặt ngoài phía trên cánh yếm bên trái mài xước nứt vỡ trên diện (13x06)cm. Gương chiếu hậu bên trái mài xước cong vênh từ trước về sau. Biển số xe phía sau bung bật mấu hãm, di lệnh cong vênh.

Ngày 03 tháng 12 năm 2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T thu giữ 01 USB bên trong lưu trữ 01 clip ghi lại video diễn biến vụ tai nạn giao thông.

Tại Bản Kết luận giám định số 444/KL-KTHS ngày 22 tháng 02 năm 2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Trích xuất 08 hình ảnh nghi liên quan đến vụ việc được lập thành bản ảnh kèm theo.

Tại Công văn số 183/SGTVT-QLPL&NL ngày 12 tháng 01 năm 2024 của Sở G1 cung cấp: đã cấp giấy phép lái xe hạng C, ngày 10 tháng 01 năm 2018, có giá trị đến ngày 10 tháng 01 năm 2023, cho Nguyễn Văn G. Đến thời điểm hiện tại, Sở G1 chưa nhận được hồ sơ xin đổi, cấp lại của Nguyễn Văn G.

Tại Cơ quan điều tra:

Nguyễn Văn G khai: G là lái xe hợp đồng chở hàng cho anh Nguyễn Hoàng A từ cuối năm 2022. Quá trình ký hợp đồng với anh Hoàng A, G có giấy phép lái xe hạng C đủ điều kiện điều khiển loại xe được giao theo quy định, từ ngày 10 tháng 01 năm 2023, G không để ý nên không biết và cũng không nói cho Hoàng A biết việc giấy phép lái xe của G hết hạn. Khoảng 11 giờ ngày 23 tháng 10 năm 2023, sau khi chở hàng dưới sự phân công của anh Nguyễn Hoàng A xong, G điều khiển xe ô tô tải BKS 15H-063.20 với tốc độ khoảng 40km/h di chuyển trên đường B thuộc thị trấn N, huyện T đi theo hướng từ thị trấn N đi về công ty A1 L tại xã Đ, huyện T. Khi cách ngã tư đường giao nhau giữa đường liên xã thuộc thôn E, xã T với đường B, thị trấn N khoảng 35m, G điều khiển xe ô tô đi bên phải đường với tốc độ khoảng 25km/h, quan sát hai bên gương chiếu hậu không thấy có phương tiện phía sau, tuy nhiên khi đến ngã tư, G điều khiển xe ô tô chuyển hướng rẽ phải vào đường liên xã thuộc thôn E, xã T nhưng không quan sát các phương tiện khác đang di chuyển phía trước và không bật đèn xin nhan thì bất ngờ G nghe thấy có tiếng va chạm với phía đầu xe bên phải của G, G phanh xe xuống kiểm tra phát hiện chị Bùi Thị N1 nằm phía rìa ngoài đuôi xe của G trong tình trạng bị thương nặng, xe mô tô BKS 15G1-390.33 đổ nghiêng trái trên mặt đường nằm dưới đầu xe ô tô. Sau đó, G cùng một số người dân đưa chị N1 đi cấp cứu tại bệnh viện H.

Bị hại chị Bùi Thị N1 trình bày: Khoảng 11 giờ ngày 23 tháng 10 năm 2023, chị N1 điều khiển xe mô tô BKS 15G1-390.33 di chuyển theo hướng từ thị trấn N đi xã T, huyện T. Khi đến khu vực ngã tư đường giao nhau giữa đường liên xã thuộc thôn E, xã T với đường B, thị trấn N, chị N1 điều khiển xe mô tô đi sát lề đường bên phải để đi thẳng qua ngã tư thì bất ngờ có 01 xe ô tô tải BKS 15H-063.20 chuyển hướng rẽ phải, phần đầu xe bên phải của xe ô tô đâm vào phần thân xe của chị N1 khiến chị N1 ngã văng xuống đất, chị bị xe ô tô chèn qua bàn chân trái và vùng bụng. Sau đó, chị N1 được người lái xe ô tô tải cùng một số người dân đưa đi cấp cứu. Sau khi sự việc xảy ra, chủ xe ô tô tải BKS 15H-063.20 đã đến thăm hỏi, động viên và hỗ trợ chị số tiền 100.000.000 đồng, tuy nhiên đến nay lái xe là Nguyễn Văn G chưa đến thăm hỏi, chưa bồi thường tổn thất cho chị, chị yêu cầu G phải bồi thường về viện phí và ảnh hưởng đến sức khỏe số tiền 500.000.000 đồng.

Bị đơn dân sự anh Nguyễn Hoàng A khai nhận phù hợp với nội dung trên, anh Hoàng A không biết việc giấy phép lái xe của Nguyễn Văn G đã hết hạn, không được G nói cho biết. Khi ký hợp đồng làm việc với G, anh Hoàng A đã kiểm tra giấy phép lái xe của G thấy đáp ứng đủ điều kiện nên mới ký hợp đồng.

Sau khi sự việc xảy ra, anh Hoàng A đã đến thăm hỏi, động viên hỗ trợ chị Bùi Thị N1 số tiền 100.000.000 đồng.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Văn G và bị hại Bùi Thị N1 khai về sự việc ngày 23 tháng 10 năm 2023, bị cáo đã điều khiển xe ô tô tải BKS 15H-063.20 khi tham gia giao thông đã va chạm với xe mô tô BKS 15G1-390.33 do chị Bùi Thị N1 điều khiển, hậu quả chị N1 bị tổn thương cơ thể 79% như nội dung trên.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại chị Bùi Thị N1 khai: Sau khi tai nạn xảy ra, chị được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện H, sau đó được chuyển đến điều trị tại Bệnh viện V1. Sau khi ra viện, chị tiếp tục điều trị tại Bệnh viện H và Bệnh viện H và đi làm lại từ ngày 01 tháng 02 năm 2024. Quá trình cấp cứu và điều trị thương tích, chị phải chi phí các khoản sau:

  • - Chi phí cấp cứu tại Bệnh viện H ngày 23/10/2023 = 3.269.961 đồng.
  • - Chi phí điều trị điều trị tại Bệnh viện V1 từ ngày 23/10/2023 đến ngày 21/12/2023 (60 ngày) = 294.412.732 đồng.
  • - Chi phí điều trị điều trị tại Bệnh viện H từ ngày 05/01/2024 đến ngày 23/01/2024 (19 ngày) = 15.516.009 đồng.
  • - Tiền phòng nghỉ của người nhà tại Bệnh viện V1 23 ngày = 7.420.000 đồng.
  • - Chi phí điều trị nội trú tại Bệnh viện H từ ngày 14/3/2024 đến ngày 16/3/2024 (03 ngày) = 3.328.578 đồng.
  • - Tiền thuốc từ ngày 24/10/2023 đến ngày 21/12/2023 (35 khoản) = 34.047.600 đồng.
  • - Tiền thuốc ngày 05/01/2024 = 473.582 đồng.
  • - Tiền thuốc ngày 30/01/2024 = 374.800 đồng.
  • - Tiền thuốc ngày 16/3/2024 = 312.000 đồng.
  • - Tiền thuốc ngày 23/01/2024 = 628.862 đồng.
  • - Kiểm tra vết thương sức khỏe sau điều trị = 1.636.000 đồng.
  • - Xe cứu thương đi Bệnh viện V1 ngày 23/10/2023 = 4.500.000 đồng.
  • - Xe cứu thương từ Bệnh viện V1 về ngày 21/12/2023 = 2.700.000 đồng.
  • - Bốn tháng nghỉ ốm không hưởng lương = 28.448.000 đồng.
  • - Tiền mất thu nhập người chăm sóc 01 tháng = 22.113.000 đồng (Anh Đinh Quang T làm việc tại Công ty TNHH D).
  • - Chi phí thuê xe và phí xét nghiệm máu của người thân, bạn bè chuẩn bị hiến máu = 35.000.000 đồng.
  • - Chi phí đi lại của người chăm sóc = 10.000.000 đồng.
  • - Chi phí ăn uống khi nằm viện = 25.000.000 đồng.
  • - Điều trị sẹo (thấp nhất) = 50.000.000 đồng.
  • - Chi phí khác (sữa, bỉm...) trong ngày điều trị = 30.000.000 đồng.
  • - Tiền công người chăm sóc: 30 ngày đầu x 04 người x 300.000 đồng = 54.000.000 đồng; 30 ngày tiếp theo x 02 người x 300.000 đồng = 54.000.000 đồng.
  • - Tiền thuê kỹ thuật viên phục hồi chức năng 200.000 đồng/ ngày x 20 buổi = 4.000.000 đồng.
  • - Tiền tổn thất về tinh thần = 210.600.000 đồng.

Tổng cộng: 834.398.720 đồng.

Chị Bùi Thị N1 yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn G và Nguyễn Hoàng A phải liên đới bồi thường cho chị số tiền 500.000.000 đồng, trong đó bị cáo phải bồi thường cho chị số tiền 350.000.000 đồng, anh Nguyễn Hoàng A phải bồi thường cho chị số tiền 150.000.000 đồng. Anh Hoàng A đã bồi thường cho chị 100.000.000 đồng nên anh Hoàng A còn phải bồi thường tiếp cho chị số tiền 50.000.000 đồng. Đối với xe mô tô thuộc sở hữu của chị bị hư hỏng nhẹ nên chị N1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.

Bị cáo và anh Nguyễn Hoàng A khai: Khoảng cuối năm 2022, bị cáo có ký hợp đồng thời vụ với anh Nguyễn Hoàng A, theo nội dung hợp đồng và do hai bên thỏa thuận về trách nhiệm dân sự khi tai nạn xảy ra nếu bị cáo có lỗi thì bị cáo phải bồi thường toàn bộ thiệt hại. Bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 350.000.000 đồng; anh Nguyễn Hoàng A đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 150.000.000 đồng, tại giai đoạn điều tra, anh đã bồi thường cho bị hại số tiền 100.000.000 đồng, anh sẽ có trách nhiệm bồi thường tiếp cho bị hại số tiền 50.000.000 đồng.

Công bố lời khai của người làm chứng anh Đinh Ngọc V khai có nội dung như lời khai của bị cáo, bị hại đã khai tại phiên tòa.

Tại Cáo trạng số 143/CT-VKSTN ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố bị cáo Nguyễn Văn G về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Sau phần xét hỏi công khai tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên phân tích hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án, nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G từ 4 năm đến 5 năm tù về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 21 tháng 3 năm 2024. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 12 tháng tù giam của Bản án hình sự sơ thẩm số 77/2023/HS-ST ngày 08 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên.
  • - Về vật chứng: Đã giải quyết xong nên không đề nghị giải quyết.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 590 và khoản 2 Điều 601 Bộ luật Dân sự đề nghị Hội đồng xét xử: Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo, bị hại và bị đơn dân sự, buộc bị cáo và anh Nguyễn Hoàng A phải bồi thường cho bị hại Bùi Thị N1 số tiền 500.000.000 đồng, trong đó bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 350.000.000 đồng; anh Nguyễn Hoàng A phải bồi thường cho bị hại số tiền 150.000.000 đồng. Anh Nguyễn Hoàng A đã bồi thường cho bị hại số tiền 100.000.000 đồng nên phải bồi thường tiếp cho bị hại số tiền 50.000.000 đồng.
  • - Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm. Anh Nguyễn Hoàng A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, bị đơn dân sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với lời khai người làm chứng, lời khai của bị đơn dân sự, phù hợp với biên bản khám nghiệm, dựng lại hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, phù hợp với các bản Kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 11 giờ 05 phút ngày 23 tháng 10 năm 2023, tại đường L, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng, bị cáo Nguyễn Văn G đã có hành vi điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát: 15H-063.20, giấy phép lái xe không còn giá trị sử dụng, chuyển hướng không chú ý quan sát, không có tín hiệu báo chuyển hướng và không đảm bảo an toàn cho các phương tiện di chuyển phía trước đã dẫn đến va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 15G1-390.33 do chị Bùi Thị N1 điều khiển. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn G đã vi phạm các quy định: “Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định” tại khoản 9 Điều 8; khi muốn chuyển hướng, người điều khiển phương tiện phải giảm tốc độ và có tín hiệu báo hướng rẽ; Trong khi chuyển hướng, người lái xe chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác” tại khoản 1, khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ. Hậu quả chị Bùi Thị N1 bị tổn thương cơ thể 79%. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

[3] Xét về lỗi: Trong vụ án này, lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo, đã điều khiển xe mô tô khi chuyển hướng không chú ý quan sát, không giảm tốc độ, không có tín hiệu báo hướng rẽ, không đảm bảo an toàn đã va chạm với xe mô tô do chị N1 điều khiển. Hậu quả chị Bùi Thị N2 bị tổn thương cơ thể 79%.

[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo xâm phạm đến sức khỏe của bị hại, gây mất trật tự trị an xã hội, gây nên tâm lý lo ngại trong nhân dân khi tham gia giao thông. Chính vì vậy, đối với hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm khắc và buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại trại giam mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn G đã bị kết án, chưa được xóa án tích nay lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý, nên bị cáo có nhân thân xấu và phải bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm”quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5.1] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về tổng hợp hình phạt: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 77/2023/HS-ST ngày 08 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G 12 tháng tù cho hưởng án treo 24 tháng thử thách về tội: “Đánh bạc”. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách, nên căn cứ khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự bị cáo phải chấp hành hình phạt 12 tháng tù giam của Bản án hình sự sơ thẩm số 77 ngày 08 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên và tổng hợp với hình phạt của Bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

[7] Về xử lý vật chứng: Xe ô tô biển kiểm soát 15H-063.20 do bị cáo Nguyễn Văn G điều khiển gây tai nạn thuộc sở hữu của anh Nguyễn Hoàng A; Xe mô tô biển kiểm soát 15G1-390.33 thuộc sở hữu của chị Bùi Thị N1 bị trầy xước nhẹ, do chị N1 không đề nghị xác định giá trị thiệt hại và bồi thường thiệt hại của xe mô tô nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô cho anh Hoàng A và trả xe mô tô cho chị N1.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra, chị N1 bị thương phải đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện V1, điều trị tại Bệnh viện H. Tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và bị đơn dân sự đã thỏa thuận, bị cáo Nguyễn Văn G và anh Nguyễn Hoàng A phải liên đới bồi thường cho chị N1 số tiền 500.000.000 đồng, trong đó: Bị báo phải bồi thường cho bị hại số tiền 350.000.000 đồng; anh Nguyễn Hoàng A phải bồi thường cho bị hại số tiền 150.000.000 đồng. Anh Nguyễn Hoàng A đã bồi thường cho bị hại số tiền 100.000.000 đồng, nên anh Hoàng A còn phải bồi thường cho bị hại số tiền 50.000.000 đồng. Xét thấy, thỏa thuận của bị cáo, bị hại và bị đơn dân sự là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận, buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 350.000.000 đồng; Buộc anh Nguyễn Hoàng A phải bồi thường cho bị hại số tiền còn thiếu là 50.000.000 đồng.

a[9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn G bị kết án và phải bồi thường thiệt hại cho bị hại nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm. Anh Nguyễn Hoàng A phải bồi thường thiệt hại cho bị hại nên anh Hoàng A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, bị đơn dân sự có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn pháp luật quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

  • - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn G phạm tội: “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G 04 (Bốn) năm tù.
  • - Căn cứ khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn G phải chấp hành hình phạt 12 tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 77/2023/HS-ST ngày 08 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện T. Căn cứ Điều 56 Bộ luật Hình sự về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án: Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo Nguyễn Văn G tính từ ngày 21 tháng 3 năm 2024.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các điều 584, 590, khoản 2 Điều 601 Bộ luật Dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo, bị hại, bị đơn dân sự, buộc bị cáo Nguyễn Văn G phải bồi thường cho bị hại Bùi Thị N1 số tiền 350.000.000 (Ba trăm năm mươi triệu) đồng; Buộc anh Nguyễn Hoàng A phải bồi thường cho bị hại Bùi Thị N1 số tiền 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng.
  • Đối với khoản tiền bị cáo Nguyễn Văn G và anh Nguyễn Hoàng A phải bồi thường cho bị hại nêu trên kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền bồi thường, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • - Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016 buộc bị cáo Nguyễn Văn G phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự và 17.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Anh Nguyễn Hoàng A phải chịu 2.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  • - Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, bị đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành án tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP. HP;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. HP;
  • - Viện KSND huyện TN;
  • - Cơ quan CSĐTCAH TN;
  • - Sở Tư pháp HP; Bị cáo; Bị hại;
  • - Bị đơn dân sự;
  • - Chi cục THADS H TN;
  • - Lưu: VT, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Minh Huế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 188/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 188/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án hình sự VPGT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger