|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 188/2024/HS-ST Ngày: 23/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Huỳnh Thị Kim Kiên
- Bà Vương Thị Khánh Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Diệu Linh – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Lê Duy Bình – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 182/2024/TLST-HSST ngày 03 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan Thị Thanh T. Giới tính: Nữ.
Tên gọi khác: Nguyễn Vũ Thúy A.
Sinh năm 1993, tại Đồng Nai;
Nơi đăng ký thường trú: Không có.
Nơi cư trú hiện nay: 84/1, tổ D, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 01/12; Nghề nghiệp: không; Con ông Phan Thanh M, sinh năm: 1960 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1956. Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Bị cáo có 04 con (con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2022) cả 04 con đều không rõ họ tên cha. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: anh Hoàng Khắc S, sinh năm 2001;
Địa chỉ: số F, đường B, khu phố F, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phan Thị Thanh T là đối tượng không có nơi đăng ký thường trú, không có giấy tờ tùy thân. Vào năm 2018, T nhặt được giấy Chứng minh nhân dân (CMND) của chị Trần Thị Tuyết N (sinh ngày 21/6/1997, hộ khẩu thường trú tại ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp) nên đã gỡ thay hình ảnh của T vào giấy CMND của chị N để sử dụng. Đến khoảng tháng 9 năm 2021, T nảy sinh ý định đặt mua các xe môtô hiệu SH giá rẻ trên mạng xã hội (Facebook) rồi thuê đối tượng (không rõ nhân thân, lai lịch) trên mạng xã hội làm giả hợp đồng ủy quyền (từ người đứng tên đăng ký xe ủy quyền cho T được định đoạt đối với chiếc xe), sau đó T sử dụng giấy CMND đã thay hình nêu trên và Hợp đồng ủy quyền giả mang xe đến các tiệm cầm đồ để cầm với số tiền cao hơn và bỏ xe không chuộc lại nhằm chiếm đoạt tài sản, cụ thể:
* Vào tháng 9/2021, T liên hệ mua qua mạng xã hội Facebook của đối tượng tên Đ (không rõ nhân thân, lai lịch) 01 xe môtô hiệu SH 150i biển số 59M1-968.35 (có Giấy đăng ký xe và 01 bản photocopy giấy CMND, đều mang tên Nguyễn Quang T2, địa chỉ: ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh) với giá 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng). Sau khi mua xe, thông qua mạng xã hội Facebook T3 đã thuê người (không rõ nhân thân, lai lịch) làm giả Hợp đồng ủy quyền do Văn phòng C (địa chỉ: số A, đường L, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) chứng thực với nội dung Bên ủy quyền là Nguyễn Quang T2 ủy quyền cho Bên nhận ủy quyền là Trần Thị Tuyết N quản lý, sử dụng, mua bán, tặng cho, thế chấp đối với chiếc xe SH trên, với số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng).
Vào ngày 27/9/2021, T3 sử dụng bản photocopy giấy CMND mang tên Trần Thị Tuyết N trên và Hợp đồng ủy quyền giả trên, mang xe hiệu SH 150i biển số 59M1-968.35 (kèm theo Giấy đăng ký xe và giấy CMND photocopy, mang tên Nguyễn Quang T2 nêu trên) đến tiệm cầm đồ “Hoàng Nhân” (địa chỉ số F đường B, khu phố F, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) do anh Hoàng Khắc S (sinh năm 2001, ngụ tại địa chỉ trên) làm chủ cầm chiếc xe được số tiền 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng) và tiêu xài hết.
* Với thủ đoạn tương tự như trên, vào ngày 05/10/2021 T3 tiếp tục mua của đối tượng tên Đ (không rõ nhân thân, lại lịch) 01 xe môtô SH 150i biển số 59T1-940.08 (có Giấy đăng ký xe và 01 bản photocopy giấy CMND, đều mang tên Nguyễn Ngọc Quyên H, địa chỉ số B T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh) với giá 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng) và tiếp tục thuê người (không rõ nhân thân, lai lịch) trên mạng xã hội Facebook làm giả Hợp đồng ủy quyền do Văn phòng C chứng thực với nội dung Nguyễn Ngọc Quyên H ủy quyền cho Trần Thị Tuyết N quản lý, sử dụng, mua bán, tặng cho, thế chấp,...đối với chiếc xe SH trên, với số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng).
Vào ngày 11/10/2021, T3 tiếp tục sử dụng bản photocopy giấy CMND mang tên Trần Thị Tuyết N và Hợp đồng ủy quyền giả nêu trên, mang xe môtô hiệu SH 150i biển số 59T1-940.08 (kèm theo Giấy đăng ký xe và giấy CNMD photocopy, mang tên Nguyễn Ngọc Q Hòa nêu trên) đến tiệm cầm đồ “Minh Phát”; địa chỉ số B đường C, khu phố D, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, do anh Hoàng Khắc M1, sinh năm 1998 làm chủ để cầm chiếc xe trên với số tiền 35.000.000₫ (Ba mươi lăm triệu đồng). Anh M1 kiểm tra thông tin và nghi vấn T3 có hành vi lừa đảo nên đã trình báo Công an phường H lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xác minh, khởi tố, điều tra xử lý.
* Vật chứng vụ án gồm:
- - 01 Hợp đồng ủy quyền giả do Văn phòng C chứng thực đối với chiếc xe SH biển số 59M1-968.35; 01 giấy CMND (bản photocopy) mang tên Trần Thị Tuyết N; 01 giấy CMND (bản photocopy) mang tên Nguyễn Quang T2; 01 Hợp đồng cầm đồ chiếc xe SH biển số 59M1-968.35 và 01 USB lưu trữ video ghi nhận được hành vi cầm đồ ngày 27/9/2021, đều do ông Hoàng Khắc S giao nộp. Lưu kèm theo Hồ sơ vụ án.
- - 01 Hợp đồng ủy quyền giả do Văn phòng C chứng thực đối với chiếc xe SH biển số 59T1-940.08; 01 giấy CMND (bản chính), 01 giấy CMND (bản photocopy) đều mang tên Trần Thị Tuyết N và 01 giấy CMND (bản photocopy) mang tên Nguyễn Ngọc Quyên H, thu giữ của bị can T3. Lưu kèm theo Hồ sơ vụ án.
- - 01 xe môtô hiệu SH 150i biển số 59M1-968.35 (kèm theo Giấy đăng ký xe mang tên Nguyễn Quang T2) do anh Hoàng Khắc S giao nộp và 01 xe môtô hiệu SH 150i biển số 59T1-940.08 (kèm theo Giấy đăng ký xe mang tên Nguyễn Ngọc Quyên H) thu giữ được của bị can T3. Bị can xác định cả 02 chiếc xe trên đều do bị can mua qua mạng xã hội Facebook của người (không rõ nhân thân, lai lịch). Kết quả xác minh những người đứng tên đăng ký chủ sở hữu đối với 02 chiếc xe trên đều không có mặt tại địa phương, không làm việc được.
* Kết quả giám định (Theo Bản kết luận giám định số 2242/KL-KTHS ngày 20 tháng 11 năm 2023 của Phòng K công an tỉnh Đ), kết luận 02 Giấy đăng ký chủ sở hữu của 02 chiếc xe trên đều là thật nhưng số khung và số máy của cả 02 xe đều đã bị mài đục, không đọc được số nguyên thủy. Do chưa rõ nguồn gốc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã tách 02 xe môtô nêu trên ra tiếp tục tạm giữ, xác minh làm rõ để xử lý sau.
* Tại bản Kết luận giám định số 385/KLGĐ-PC09 ngày 25/02/2022 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:
“- Hình dấu tròn Văn phòng C, tỉnh Đồng Nai trên các tài liệu nêu ở phần mẫu cần giám định (ký hiệu A1, A2) so với hình dấu tròn Văn phòng C – thành phố B, tỉnh Đồng Nai trên tài liệu nêu ở phần mẫu so sánh (ký hiệu M) không phải do cùng một con dấu đóng ra;
Chữ ký mang tên Lê Thị T4 trên các tài liệu nêu ở phần mẫu cần giám định (ký hiệu A1, A2) so với chữ ký mang tên Lê Thị T4 trên tài liệu nêu ở phần mẫu so sánh (ký hiệu M) không phải do cùng một người ký ra.”.
* Tại bản Kết luận giám định số 2242/KL-KTHS ngày 29/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: “Giấy chứng minh nhân dân nêu ở phần mẫu cần giám định (ký hiệu A3) là thật. Có bị thay ảnh".
* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Hoàng Khắc S đã được bị cáo T3 bồi thường số tiền 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng) và không yêu cầu bồi thường gì khác.
Tại cáo trạng số 192/CT-VKSBH ngày 29 tháng 3 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo: Phan Thị Thanh T về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, theo quy định tại điểm b, d khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Phan Thị Thanh T khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra, công nhận nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo là đúng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội nêu tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo điều, khoản và tội danh nêu trên; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau:
- - Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Phan Thị Thanh T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường trách nhiệm dân sự cho bị hại; có hoàn cảnh khó khăn và đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi (quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự).
Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt: Bị cáo Phan Thị Thanh T, như sau:
- + Từ 10 đến 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
- + Từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm b, d khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Phan Thị Thanh T không có ý kiến bào chữa, tranh luận đối với luận tội của đại diện Viện Kiểm sát. Bị cáo đã nhận thức được được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật hình sự và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an T, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Xét thấy, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, lời khai của bị hại đã đầy đủ có trong hồ sơ vụ án, bị cáo đã bồi thường xong về trách nhiệm dân sự cho bị hại và không có yêu cầu nào khác, nên việc vắng mặt trên không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về nội dung vụ án:
Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định:
Từ tháng 9/2021 đến ngày 11/10/2021, Phan Thị Thanh T đã 02 lần có hành vi sử dụng tài liệu giả thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cụ thể như sau:
- - Lần 1: Vào ngày 27/9/2021, tại tiệm cầm đồ “Hoàng Nhân”; địa chỉ: số F đường B, khu phố F, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. T đã có hành vi sử dụng 01 Hợp đồng ủy quyền giả của Văn phòng C; Giấy đăng ký xe; bản photocopy giấy CMND (đều mang tên Nguyễn Quang T2); bản photocopy giấy CMND mang tên Trần Thị Tuyết N cầm cố 01 xe môtô hiệu SH 150i biển số 59M1-968.35 (không rõ nguồn gốc) lừa dối và đã chiếm đoạt được số tiền 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng) của anh Hoàng Khắc S.
- - Lần thứ 2: Vào ngày 11/10/2021, tại tiệm cầm đồ “Minh Phát”; địa chỉ: số B đường C, khu phố D, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. T tiếp tục có hành vi sử dụng 01 Hợp đồng ủy quyền giả của Văn phòng C; Giấy đăng ký xe; bản photocopy giấy CMND (đều mang tên Nguyễn Ngọc Quyên H); bản photocopy giấy CMND mang tên Trần Thị Tuyết N cầm cố 01 xe môtô hiệu SH 150i biển số 59T1- 940.08 (không rõ nguồn gốc) lừa dối nhằm chiếm đoạt số tiền 35.000.000₫ (Ba mươi lăm triệu đồng) của anh Hoàng Khắc M1 thì bị anh M1 phát hiện trình báo Cơ quan chức năng xử lý, nên T chưa chiếm đoạt được số tiền trên của anh M1.
[3] Về tội danh và khung hình phạt:
Xét thấy, bị cáo Phan Thị Thanh T bằng thủ đoạn gian dối của mình, đã 02 lần sử dụng tài liệu giả và thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt được số tiền 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng) của bị hại là anh Hoàng Khắc S. Nên hành vi của bị cáo Phan Thị Thanh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, theo quy định tại điểm b, d khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
Đối với hành vi gian dối của bị cáo thực hiện vào ngày 11/10/2021, do anh Hoàng Khắc M1 phát hiện được việc bị cáo sử dụng tài liệu giả và đã kịp thời trình báo Cơ quan chức năng xử lý, nên bị cáo chưa chiếm đoạt được tài sản của anh M1, nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự, nên không truy cứu trách nhiệm hình sự.
Như vậy, cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân thành phố B đã truy tố đối với bị cáo về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, theo quy định tại điểm b, d khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của mình.
[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ và đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, gây ảnh hưởng đến hoạt động quản lý hành chính của các cơ quan Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và có tác dụng răn đe, đấu tranh phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Phan Thị Thanh T không có tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường trách nhiệm dân sự cho bị hại; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn và đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng trong vụ án:
- - 01 Hợp đồng ủy quyền giả của Văn phòng C ghi ngày 06/01/2021 chứng thực đối với chiếc xe SH biển số 59M1-968.35; 01 giấy CMND (bản photocopy) mang tên Trần Thị Tuyết N; 01 giấy CMND (bản photocopy) mang tên Nguyễn Quang T2; 01 Hợp đồng cầm đồ chiếc xe SH biển số 59M1-968.35 và 01 USB lưu trữ video ghi nhận được hành vi cầm đồ ngày 27/9/2021, đều do anh Hoàng Khắc S giao nộp. Được lưu kèm theo hồ sơ vụ án (Bút lục: 33, 35, 36, 39, 101, 102, 103).
- - 01 Hợp đồng ủy quyền giả của Văn phòng C ghi ngày 16/4/2020 chứng thực đối với chiếc xe SH biển số 59T1-940.08; 01 giấy CMND (bản chính) và 01 giấy CMND (bản photocopy) đều mang tên Trần Thị Tuyết N; 01 giấy CMND (bản photocopy) mang tên Nguyễn Ngọc Quyên H, thu giữ của bị cáo Phan Thị Thanh T. Được lưu kèm theo hồ sơ vụ án (Bút lục: 34, 37, 38, 104, 105, 106).
- - Đối với: 01 xe môtô hiệu SH 150i biển số 59M1-968.35 (kèm theo Giấy đăng ký xe mang tên Nguyễn Quang T2) do anh Hoàng Khắc S giao nộp và 01 xe môtô hiệu SH 150i biển số 59T1-940.08 (kèm theo Giấy đăng ký xe mang tên Nguyễn Ngọc Quyên H) thu giữ được của bị cáo Phan Thị Thanh T. Bị cáo xác định cả 02 chiếc xe trên đều do bị cáo mua qua mạng xã hội Facebook của người (không rõ nhân thân, lai lịch). Kết quả xác minh những người đứng tên đăng ký chủ sở hữu đối với 02 chiếc xe trên đều không có mặt tại địa phương, nên không làm việc được. Kết quả giám định kết luận 02 Giấy đăng ký chủ sở hữu của 02 chiếc xe trên đều là thật nhưng số khung và số máy của cả 02 xe đều đã bị mài đục, không đọc được số nguyên thủy. Do chưa rõ nguồn gốc, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã tách 02 xe môtô nêu trên ra tiếp tục tạm giữ, xác minh làm rõ để xử lý sau.
[7] Đối với hành vi thay hình ảnh trên giấy CMND mang tên Trần Thị Tuyết N thực hiện vào năm 2018. Tại thời điểm thực hiện hành vi sửa chữa giấy CMND, T thực hiện với mục đích làm giấy tờ tùy thân, không nhằm mục đích thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không xử lý đối với T về tội “Sửa chữa và sử dụng giấy chứng nhận, các tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại Điều 340 Bộ luật hình sự là phù hợp.
Đối với các đối tượng được T thuê làm Hợp đồng ủy quyền giả qua mạng xã hội, do không rõ nhân thân lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Hoàng Khắc S đã được bị cáo T bồi thường số tiền 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng) và không yêu cầu bồi thường gì khác, nên không đặt ra giải quyết.
[9] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
[10] Đối với phần trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa, xét thấy phù hợp với những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định về vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Thị Thanh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, d khoản 2 Điều 341; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Phan Thị Thanh T 01 (Một) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 02 (Hai) năm về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung của hai tội là 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Phan Thị Thanh T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Văn Hùng |
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Đồng Nai;
- - VKSND TP Biên Hòa;
- - Thi hành án hình sự;
- - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
- - Trại giam TP Biên Hòa;
- - Bị cáo;
- - Lưu HS, VP.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Huỳnh Thị Kim Kiên |
Trần Văn Hùng |
|
Vương Thị Khánh Loan |
Bản án số 188/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 188/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Thị Thanh Thúy phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. 2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, d khoản 2 Điều 341; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt: Phan Thị Thanh Thúy 01 (Một) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 02 (Hai) năm về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung của hai tội là 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
