|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số:188/2024/HSST Ngày 21 tháng 8 năm 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM
* Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phí Văn Chân và ông Trần Đức Anh
- - Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thùy Trang – Thư ký Tòa án
- - Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên Tòa: Bà Nguyễn Thị Dung – Kiểm sát viên
Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý hình sự số: 110/2024/HSST ngày 26 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T - sinh năm 1994;HKTT và nơi ở: Thôn T, xã H, huyện T, Tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ và tên bố: Nguyễn Văn D; Họ và tên mẹ: Lê Thị C; Tiền án, tiền sự: 03 Tiền án, theo danh chỉ bản số 105 do Công an quận B lập ngày 05/01/2024.
- - Bản án số 128/HSST ngày 12/10/2012 của Tòa án nhân dân huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa (Nay là Tòa án nhân dân huyện Nghi Sơn) xử phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 56 tháng 06 ngày về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Chưa được xóa án tích.
- - Bản án số 77/2015/HSST ngày 23/9/2015 của Tòa án nhân dân huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa (Nay là Tòa án nhân dân huyện Nghi Sơn) xử phạt 18 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt của Bản án số 128/HSST ngày 12/10/2012, buộc Nguyễn Văn T chấp hành 48 tháng tù. Ra trại ngày 19/2/2019. Chưa được xóa án tích.
- - Bản án 136/2020/HSST ngày 29/10/2020, Tòa án nhân dân huyện Nghi Sơn, Thanh Hóa xử phạt 78 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Chưa xóa án tích.
Hiện bị can Nguyễn Văn T đang thi hành Bản án 136/2020/HSST ngày 29/10/2020 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Sơn, Thanh Hóa tại Trại giam S- Bộ C1.
* Người bị hại: Anh Phan Văn D1 - sinh năm 2001
Địa chỉ: Khu A, P, V, L, tỉnh Vĩnh phúc
* Người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan: Anh Phan Văn V - sinh năm 2002.
Địa chỉ: B, L, tỉnh Vĩnh phúc
* Nguyên đơn dân sự: Anh Phạm Gia L- sinh năm 1975
Nơi ở: Xóm A G, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.
( Anh D2, anh V vắng mặt; anh L có đơn xin vắng mặt tại phiên Tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên Tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 09/5/2020, Công an quận B nhận được đơn trình báo của anh Phan Văn D1 (sinh năm: 2001, nơi cư trú: Khu A, P, V, L, Vĩnh Phúc) về việc bị đối tượng lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là chiếc xe mô tô biển số: 88D1-425.54
Sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan Công an đã tiến hành rà soát và thu giữ tại cửa hàng L1 chiếc xe mô tô biển số: 88D1-425.54, nhãn hiệu Honda Wave 110, màu trắng đen bạc.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng 12 giờ ngày 09/5/2020, anh Phan Văn V, (sinh năm: 2002, nơi cư trú: B, L, Vĩnh Phúc) cùng làm bảo vệ với anh Phan Văn D1 tại ECO HOME 3 có mượn anh D1 chiếc xe mô tô biển số: 88D1-425.54 của anh D1 để đi giải quyết việc riêng. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày V quay lại nơi làm việc thì Nguyễn Văn T (làm cùng tổ bảo vệ với D1 và V) hỏi mượn chiếc xe trên đi có việc. Anh V đồng ý giao xe cho T. Sau khi mượn xe của anh V, do thiếu tiền tiêu sài nên T đã đến cửa hàng L1 ở địa chỉ E đường T, phường T, quận H, Hà Nội của anh Phạm Gia L (SN: 1975, HKTT: Giáp Nhị, T, T). Tại đây, T đưa cho anh L đăng ký xe và chứng minh nhân dân mang tên Phan Văn D1 và nói với L mình là Phan Văn D1 có nhu cầu bán xe. Do T có đăng ký xe bản chính nên anh L đồng ý mua chiếc xe máy biển số: 88D1-425.54 với giá 11.300.000 đồng (bao gồm cả giấy tờ xe mang tên Phan Văn D1).
Đến khoảng 15 giờ cùng ngày anh D1 cần sử dụng xe thì V gọi điện cho T đòi xe. Tuy nhiên, T trả lời loanh quanh và chưa trả xe. Đến khoảng hơn 17 giờ cùng ngày T nói đã gửi xe ở E đường T và muốn lấy xe thì đến gặp anh Long H có số điện thoại "0836.629.xxx" còn T đã đi vào thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó T đã ngắt liên lạc. Anh D1 liên hệ với số điện thoại trên thì mới biết T đã bán chiếc xe của mình với giá 11.300.000 đồng (mười một triệu ba trăm nghìn đồng). Sau đó anh D1 đã đến cơ quan Công an để trình báo về sự việc trên.
Ngày 13/5/2020, Cơ quan điều tra Công an quận B có Yêu cầu định giá số 80 về việc định giá chiếc xe máy biển số: 88D1-425.54.
Ngày 25/6/2020, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận B có kết luận định giá tài sản số: 108/KLĐGTS kết luận:
- 01 (một) xe mô tô biển số 88D1-425.54, nhãn hiệu Honda Wave 110 màu trắng đen bạc, số máy 1342571, số khung 010009, đã qua sử dụng trị giá 17.000.000 đồng.
Quá trình xác minh xác định ngày 24/10/2019 Nguyễn Văn T bị Cơ quan điều tra Công an thị xã N, Thanh Hóa khởi tố bị can về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T khai nhận hành vi phạm tội như trên và khai: Ban đầu T mượn xe của D1 để đi chơi. Sau đó do hết tiền chi tiêu nên T đã nảy sinh ý định bán chiếc xe của anh D1. Số tiền bán xe T đã chi tiêu cá nhân hết. Sau đó T bị Công an thành phố H bắt theo Quyết định truy nã bị can của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã N, Thanh Hóa.
Đối với chiếc xe máy biển số: 88D1-425.54, qua điều tra xác định đăng ký xe mang tên Phan Văn D1 (sinh năm: 2001, nơi cư trú: Khu A, P, V, L, Vĩnh Phúc). Ngày 16/7/2020, Cơ quan điều tra Công an quận B đã trả chiếc xe trên cho Phan Văn D1. Anh D1 đã nhận lại xe và không có yêu cầu gì
Về dân sự: Anh Phạm Gia L yêu cầu Nguyễn Văn T bồi thường số tiền 11.300.000 đồng.
Bản cáo trạng số 97/CT-VKSBTL ngày 22/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015.
* Tại phiên toà:
- - Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng đã truy tố.
- - Người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Nguyên đơn dân sự có đơn xin vắng mặt tại phiên Tòa và giữ nguyên lời khai như đã khai tại cơ quan điều tra, yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn T bồi thường số tiền 11.300.000 đồng.
* Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm sau khi phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 175; Điều 38; Điều 47;điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56 Bộ luật hình sự; đề nghị tuyên phạt bị cáo mức án từ 30 đến tháng 36 tù; Tổng hợp hình phạt 78 tháng tù tại Bản án số 136/2020/HSST ngày 29/10/2020 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 bản án từ 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù, thời hạn từ tính từ ngày 24/5/2020.
* Về Dân sự:
- - Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Phạm Gia L số tiền 11.300.000 đồng
- - Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- - Bị cáo phải chịu án phí HSST và DSST
- - Bị cáo, người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, bị cáo không có tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến phát biểu quan điểm của Kiểm sát viên, bị cáo. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra thu thập được, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 09/5/2020, tại chung cư E thuộc phường Đ, quận B, Hà Nội, Nguyễn Văn T có hành vi mượn anh Phan Văn V chiếc xe máy Honda Wave 110, màu trắng đen bạc, BKS: 88D1-425.54 trị giá 17.000.000 đồng đăng ký xe mang tên Phan Văn D1. Sau đó Nguyễn Văn T đã bán cho anh Phạm Gia L chiếc xe máy trên với giá 11.300.000 đồng. Số tiền bán xe, T đã tiêu xài cá nhân hết. Cơ quan điều tra đã thu hồi xe và trao trả cho anh Phan Văn D1. Hành vi của bị cáo Nguyễn văn T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015.
[3]. Xét tính chất, mức độ hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự trị an xã hội; bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi gian dối, lợi dụng lòng tin của người bị hại để chiếm đoạt tài sản.
[4]. Xét về nhân thân của bị cáo: Từ năm 2012 đến năm 2020, bị cáo đã có 03 tiền án về các tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và “Trộm cắp tài sản”, các tiền án này đều chưa được xóa, do vậy hành vi phạm tội lần này của bị cáo là tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự, đây là tình tiết định khung hình phạt, nên không xác định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Qua đó thể hiện bị cáo đã được pháp luật giáo dục nhiều lần nhưng không sửa đổi bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội. Với mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng mức hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và mang tính răn đe, phòng ngừa chung.
[5]. Ngoài ra tại thời điểm Tòa án xét xử vụ án, bị cáo còn đang phải chấp hành bản án Hình sự sơ thẩm số 136/2020/HSST ngày 29/10/2020, Tòa án nhân dân huyện Nghi Sơn, Thanh Hóa xử phạt 78 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, do vậy cần phải tổng hợp hình phạt của bản án này theo quy định tại Điều 56 Bộ Luật Hình sự
[6]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên Tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo thừa nhận hành vi phạm tôi đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự .
[7]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định thì ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8]. Về trách nhiệm dân sự:
- - Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường về dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - Buộc bị cáo phải bồi thường cho nguyên đơn dân sự: Anh anh Phạm Gia L số tiền 11.300.000 đồng
[9]. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 565.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm;
[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và nguyên đơn Dân sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".
- Áp dụng điểm g, khoản 2 Điều 175; Điều 38, Điều 47 điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.
- - Áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phÝ, lÖ phÝ Toµn.
- Về trách nhiệm Dân sự:
- - Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Phạm Gia L số tiền 11.300.000 đồng (Mười một triệu ba trăm nghìn đồng)
- Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng ( Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 565.000 đồng ( Năm trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) án phí Dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
- -Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- - Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Xử phạt: Nguyễn Văn T 34 ( Ba mươi tư) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 78 tháng tù tại Bản án số: 136/2020/HSST ngày 29/10/2020 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 bản án là 09( Chín) năm 04 (B) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/5/2020. Tiếp tục giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
|
NƠI NHẬN:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Trang |
Bản án số 188/2024/HSST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 188/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Hình sự Sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
