|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 188/2025/DS-PT
Ngày: 15/4/2025
V/v “Tranh chấp hợp đồng tặng
cho QSDĐ; Tranh chấp QSDĐ,
Tranh chấp hợp đồng tín dụng,
hợp đồng thế chấp QSDĐ”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- - Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy.
- - Các Thẩm phán:
- Ông Nguyễn Ngọc Vạng
- Ông Đinh Chí Tâm
- - Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Điểu - Kiểm sát viên.
Ngày 11 và 15/4/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 20/2025/TLPT-DS ngày 14 tháng 12 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 123/2024/DS-ST ngày 11 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 60/2025/QĐ-PT ngày 12 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn:
- Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1929;
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1929.
- - Bị đơn: Anh Hồ Nguyễn Út L1, sinh năm 1979.
Cùng địa chỉ: Số C, ấp K, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện ủy quyền: Anh Huỳnh Hữu T, sinh năm 1971
Địa chỉ: Số I, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp (theo văn bản ủy quyền ngày 24/01/2024).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông B, bà L là luật sư Huỳnh Thanh T1, Văn phòng L4, thuộc đoàn luật sư tỉnh Đ.
Địa chỉ: Số C, ấp K, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn B1, sinh năm 1960;
- Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1968;
- Bà Nguyễn Thị Kim L2, sinh năm 1969;
- Anh Nguyễn Quốc V, sinh năm 1992;
- Chị Huỳnh Mỹ H, sinh năm 1990;
- Chị Võ Thị Mỹ X, sinh năm 1986;
- Ngân hàng N1 - Chi nhánh thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
- - Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị L, anh Hồ Nguyễn Út L1, ông Nguyễn Văn B1 là các nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện ủy quyền: Anh Huỳnh Hữu T, sinh năm 1971
Địa chỉ: Số I, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp (theo văn bản ủy quyền ngày 18/7/2023).
Người đại diện ủy quyền của bà L2, anh V, chị H: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1968 (theo văn bản ủy quyền ngày 19/7/2023).
Cùng địa chỉ: Số C, ấp K, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Số C, ấp K, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Xuân T2, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng N1 - Chi nhánh thành phố S, Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Bạch K – Phó Giám đốc Ngân hàng N1 - Chi nhánh thành phố S, Đồng Tháp (theo văn bản ủy quyền ngày 30/9/2024).
Địa chỉ: Số A, T, Khóm A, Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn cụ Nguyễn Văn B, cụ Nguyễn Thị L cùng ủy quyền cho anh Huỳnh Hữu T trình bày:
Phần đất tranh chấp diện tích 2.464m² thuộc thửa 23 tờ bản đồ 11 được Ủy ban nhân dân thành phố S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ Nguyễn Văn B ngày 09/10/1993, cấp đổi lần 1 ngày 17/5/2004, lần 2 ngày 01/4/2011 có nguồn gốc là của cha mẹ cụ B để lại cho cụ B. Còn phần đất diện tích 5.376m² thuộc thửa 516 tờ bản đồ 01 được Ủy ban cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 15/5/2003 cấp cho hộ Nguyễn Văn B; ngày 17/02/2011 cấp đổi sang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa 55 tờ bản đồ 11 diện tích 5.490,4m² có nguồn gốc do vợ chồng cụ B, cụ L tạo lập (nhận chuyển nhượng).
Năm 2018, cụ B và cụ L đều đã lớn tuổi, đi lại khó khăn nên giao anh L1 (con út sống chung với cụ B và cụ L) đứng tên các thửa đất trên để thuận tiện trong việc đi lại sau này. Đồng thời phải có nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng cha, mẹ; tách thửa, chuyển quyền sử dụng đất cho hai anh ruột là Nguyễn Văn B1, Nguyễn Văn N phần đất mà cụ B và cụ L đã cho ông B1, ông N sử dụng trước đó (phần đất cho ông N thì ông N đã cất nhà ở).
Ngày 27/11/2018, cụ B, cụ L, chị Võ Thị Mỹ X (thành viên trong hộ - vợ bị đơn) đến Phòng C tỉnh Đồng Tháp để lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất. Ngày 19/3/2019, anh L1 được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thửa 23 tờ bản đồ 11 diện tích 2.182,1m² và thửa 55 bản đồ 11 diện tích 5.490,4m². Tuy nhiên, sau khi đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất anh L1 không đồng ý thực hiện việc chuyển quyền sử dụng đất cho hai anh ruột (ông B1, ông N) như đã thỏa thuận; không còn quan tâm chăm sóc cha mẹ (cụ B và cụ L) lúc ốm đau, bệnh tật. Thậm chí tỏ sự bất hiếu, bỏ mặc cha mẹ tự lo cơm nước, sinh hoạt hàng ngày.
Do đó, nay nguyên đơn cụ Nguyễn Văn B, cụ Nguyễn Thị L yêu cầu:
- - Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được lập ngày 27/11/2018 giữa cụ B, cụ L với anh L1; yêu cầu anh L1 trả lại phần đất diện tích 248,2m² (hiện ông N đang quản lý sử dụng) và phần đất diện tích 127,2m² thuộc một phần thửa 23 tờ bản đồ 11 để chuyển quyền sử dụng đất cho ông N và ông B1 sử dụng. Phần diện tích đất còn lại của thửa 23 và toàn bộ diện tích thửa đất số 55 cùng tờ bản đồ 11 để cho cụ B, cụ L và anh L1 cùng đứng tên đồng sở hữu chung.
- - Yêu cầu Ngân hàng N1 - Chi nhánh thành phố S giao trả lại cho cụ B, cụ L giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 55 tờ bản đồ 11 (hiện anh L1 đứng tên).
Quá trình tham gia tố tụng bị đơn anh Hồ Nguyễn Út L1 trình bày:
Anh L1 là con út sống chung nhà với cha mẹ, nên cha mẹ (cụ B và cụ L) có tặng cho anh L1 hai thửa đất số 23, 55 cùng tờ bản đồ 11 cấp cho hộ Nguyễn Văn B. Ngày 27/11/2018, các bên có đến phòng Công chứng lập hợp đồng tặng cho theo quy định, ngày 19/3/2019, anh L1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thửa 23 diện tích 2.182,1m² và thửa 55 diện tích 5.490,4m². Cha mẹ tặng cho anh L1 các thửa đất trên không điều kiện, nhưng trách nhiệm làm con thì anh L1 vẫn phải làm tròn chữ hiếu, phụng dưỡng, chăm sóc cho cha mẹ.
Việc cụ B và cụ L tặng cho anh L1 02 thửa đất trên, các anh chị trong gia đình có biết nhưng không ai tranh chấp gì, vì trước đó cụ B và cụ L cũng đã chia đất cho các con mỗi người một phần (con gái 1.000m², con trai 2.000m² đất ruộng). Sau đó, cụ B đã tiến hành thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thực hiện việc tặng cho các con, trong đó phần anh L1 được chia hai thửa đất 23, 55. Cụ B, cụ L cũng đã giao đất cho anh L1 quản lý, hiện thửa 55 (đất lúa) anh L1 đã lên liếp trồng hoa kiểng các loại; thửa 23 (đất thổ và cây lâu năm) anh có xây dựng nhà tiền chế, trồng cây, hoa kiểng các loại. Ngoài ra, trên thửa đất còn có căn nhà của ông N xây dựng khoảng năm 2015. Lúc này cụ B có thỏa thuận với ông N về việc đi nơi khác cất nhà ở (về phần đất mà cha mẹ đã cho ông N ở L);
ông N có nói khi nào anh L1 có nhu cầu sử dụng đất sẽ di dời, các bên chỉ nói miệng không có giấy tờ.
Anh L1 không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của cụ B, cụ L vì hợp đồng tặng cho quyền sử dụng giữa các bên được thực hiện đúng theo quy định, có công chứng chứng thực. Anh L1 đã được cơ quan thẩm quyền công nhận quyền sử dụng đất. Bản thân anh L1 vẫn thực hiện tốt nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ. Do đó, anh L1 không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc hủy hợp đồng tặng cho và đứng tên đồng sở hữu tài sản chung với cụ B và cụ L.
Không đồng ý với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn B1 về việc yêu cầu công nhận cho ông N được sử dụng phần đất diện tích 248,2m² thuộc một phần thửa 23, tờ bản đồ 11; công nhận cho ông B1 được sử dụng đất diện tích 127,2m² thuộc một phần thửa 23, tờ bản đồ 11.
Việc ông N trình bày phần đất ông N được cha mẹ cho sử dụng từ năm 1986 đến nay trên 30 năm là không có căn cứ. Đồng thời việc trình bày thời gian sử dụng đất của ông N cũng không thống nhất, trước đây hòa giải ở địa phương thì trình bày cho sử dụng từ năm 1983.
Đối với việc ông B1 trình bày cha mẹ cho sử dụng từ năm 2014 là không có căn cứ và lời trình bày của ông B1 về thời gian cha mẹ cho đất sử dụng cũng không thống nhất.
Đồng thời, anh L1 yêu cầu phản tố: yêu cầu ông N tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản; trả lại phần đất diện tích 239m² (trong tổng diện tích 248,2m² ông N đang quản lý) thuộc một phần thửa đất 23 cho anh L1 sử dụng, anh L1 không bồi thường thiệt hại tài sản cũng như chi phí di dời cho ông N.
Ngoài ra anh L1 yêu cầu Tòa án xem xét áp dụng thời hiệu khởi kiện của nguyên đơn (cụ B và cụ L) đối với hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất.
Đối với yêu cầu độc lập của ngân hàng: Anh L1 không đồng ý vì hợp đồng tín dụng chưa đến hạn, hiện nay anh L1 vẫn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Ngân hàng, chưa vi phạm nghĩa vụ thanh toán.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị Kim L2, anh Nguyễn Quốc V, chị Huỳnh Mỹ H (vợ, con trai, con dâu ông N) cùng ủy quyền cho ông N trình bày:
Ông N thống nhất theo lời trình bày của cụ B, cụ L về nguồn gốc các thửa đất tranh chấp. Phần đất gia đình ông N đang quản lý, sử dụng diện tích 248,2m² thuộc một phần thửa 23 được cụ B, cụ L cho sử dụng từ năm 1992 đến nay (30 năm). Sau khi được cha mẹ cho đất, ông N đã cất nhà ở đến năm 2008 thì xây dựng nhà kiên cố như hiện trạng và sử dụng ổn định đến nay không ai tranh chấp. Việc cụ B, cụ L cho ông N sử dụng phần đất trên không có làm giấy tờ. Năm 2018, cụ B, cụ L tặng cho anh L1 toàn bộ thửa đất 23 (trên đất có tài sản của ông N) ông N không biết.
Nay ông N yêu cầu vô hiệu một phần hợp đồng tặng cho lập ngày 27/11/2018 giữa cụ B, cụ L với anh L1 đối với thửa đất 23; công nhận cho ông N được sử dụng phần đất diện tích 248,2m² thuộc thửa 23 tờ bản đồ 11 thể hiện tại các mốc M7 – M10 – M5 – M6 – M7 theo sơ đồ đo đạc ngày 26/7/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn B1 ủy quyền cho anh Huỳnh Hữu T trình bày:
Ông B1 thống nhất nguồn gốc các thửa đất tranh chấp là của ông bà để lại cho cha và của cha mẹ tạo lập nên. Năm 2014 cha mẹ (cụ B, cụ L) có cho ông B1 phần đất diện tích khoảng 100m², diện tích đo đạc thực tế là 127,2m². Việc cho đất có làm giấy tay; cụ B, cụ L giữ nhưng hiện nay không còn. Do đi làm ở xa nên đến nay ông B1 chưa có cất nhà ở. Năm 2020, ông B1 đề nghị cụ B, cụ L chuyển quyền sử dụng thửa đất trên cho ông B1 thì được biết toàn bộ thửa đất 23 đã được tặng cho anh L1. Khi đó, ông B1 có yêu cầu anh L1 tách thửa chuyển quyền sử dụng đất cho ông B1 nhưng anh L1 không đồng ý nên phát sinh tranh chấp.
Nay ông B1 yêu cầu vô hiệu một phần hợp đồng tặng cho giữa cụ B, cụ L và anh L1 đối với thửa đất 23; công nhận cho ông B1 được sử dụng phần đất diện tích 127,2m² thuộc thửa 23 tờ bản đồ 11 thể hiện tại các mốc M8 – M9 – M10 – M7 – M8 (theo sơ đồ đo đạc ngày 26/7/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng N1 - Chi nhánh thành phố S – đại diện ủy quyền ông Huỳnh Bạch K trình bày:
Anh L1 có ký hợp đồng tín dụng số 6501-LAV-202100535 ngày 17/3/2021 vay tại Ngân hàng N1 số tiền 100.000.000đ, phương thức cho vay theo hạn mức quy mô nhỏ, mục đích vay trồng hoa kiểng, thời hạn vay 60 tháng; lãi suất vay 10%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất cho vay trong hạn. Phân kỳ trả nợ gốc 12 tháng trả nợ một lần số tiền trả trong 4 năm đầu là 10.000.000đ và năm cuối cùng (17/3/2026) trả nợ gốc là 60.000.000đ; hiện dư nợ gốc còn lại là 70.000.000đ.
Theo Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/06/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và Nghị định số 116/2018/NĐ-CP ngày 07/09/20218 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 55/2015/NĐ-CP ngày 09/06/2015; Việc cho vay hạn mức dưới 200.000.000đ thì không lập Hợp đồng thế chấp tài sản nhưng anh L1 có giao cho Ngân hàng giữ một Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số bìa: CQ 958662, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 19/03/2019 thuộc thửa đất số: 55, tờ bản đồ số 11, diện tích đất 5.490,4m², loại đất chuyên trồng lúa nước khi thực hiện các thủ tục vay vốn tại Ngân hàng.
Đến thời điểm hiện tại anh L1 vẫn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng lãi, trả vốn theo khế ước nhận nợ. Tuy nhiên do Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 55 Ngân hàng đang giữ có phát sinh tranh chấp. Do đó, Ngân hàng N1 - Chi nhánh thành phố S khởi kiện yêu cầu anh L1 trả số tiền gốc 70.000.000₫ và tiền lãi từ ngày 18/9/2024 cho đến khi thanh toán xong dư nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ ngày 17/3/2021.
Tại phiên tòa, Ngân hàng N1 xin rút toàn bộ yêu cầu độc lập; không yêu cầu tòa án tiếp tục giải quyết, để các bên tự thỏa thuận.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 55; ngân hàng không đồng ý. Khi nào anh L1 trả xong vốn, lãi thì Ngân hàng sẽ trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh L1.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Võ Thị Mỹ X (vợ anh L1) đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các thông báo nhưng không có văn bản ý kiến.
* Tại quyết định của bản án sơ thẩm số 123/2024/DS-ST ngày 11 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc đã tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu của cụ Nguyễn Văn B và cụ Nguyễn Thị L về việc: Yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số công chứng 10021 ngày 27/11/2018; yêu cầu anh L1 trả lại quyền sử dụng đất thuộc thửa 55, 23 cùng tờ bản đồ 11; yêu cầu Ngân hàng N1 trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 958662 ngày 19/3/2019 (thửa 55).
- Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn B1 về việc yêu cầu công nhận cho ông Nguyễn Văn B1 được sử dụng phần đất diện tích 127,2m².
- Không chấp nhận yêu cầu của anh Hồ Nguyễn Út L1 về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn N di dời tài sản trả lại diện tích 239m² (trong tổng diện tích 248,2m² ông N đang quản lý).
- Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn N.
- - Tuyên vô hiệu một phần hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số công chứng 10021 ngày 27/11/2018 giữa cụ Nguyễn Văn B, cụ nguyễn Thị L, chị Võ Thị Mỹ X và anh Hồ Nguyễn Út L1.
- - Công nhận cho ông Nguyễn Văn N được quyền sử dụng đất diện tích 248,2m² thuộc một phần thửa 23, tờ bản đồ 11, loại đất thổ do anh Hồ Nguyễn Út L1 đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thể hiện tại các mốc M7 – M10 – M5 – M6 – M7 (theo sơ đồ đo đạc ngày 26/7/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S (hiện ông N đang quản lý, sử dụng)
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện độc lập của Ngân hàng N1 về việc yêu cầu anh Hồ Nguyễn Út L1 trả nợ.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá và đo đạc:
- Cụ Nguyễn Văn B, Nguyễn Thị L phải chịu toàn bộ chi phí thẩm định, định giá, đo đạc số tiền là 9.510.090đồng (đã nộp đủ và chi xong)
Đề nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 958661 đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp cho anh Hồ Nguyễn Út L1 ngày 19/3/2019 đối với thửa đất 23 tờ bản đồ 11 để điều chỉnh cấp lại cho ông Nguyễn Văn N diện tích 248,2m² theo bản án đã tuyên.
Các bên đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để đăng ký, kê khai, cấp đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
(Có Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 26/7/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S, Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ và Biên bản định giá tài sản kèm theo).
- - Anh Hồ Nguyễn Út L1 phải chịu chi phí thẩm định tại chỗ và định giá số tiền là 1.400.000đồng (đã nộp đủ và chi xong).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Cụ Nguyễn Văn B, cụ Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn B1 phải chịu án phí đối đối yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận; nhưng được miễn nộp án phí do là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp án phí.
- - Anh Hồ Nguyễn Út L1 phải chịu án 300.000đồng phí dân sự sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng anh L1 đã nộp theo biên lai thu số 0004221 ngày 31/5/2024 được khấu trừ vào án phí phải nộp.
- - Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn N số tiền tạm ứng án phí 10.935.000đồng đã nộp ngày 18/7/2023 theo biên lai thu số 0003074 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
- - Hoàn trả cho Ngân hàng N1 số tiền tạm ứng án phí 1.781.000đ theo biên lai thu số 0007807 ngày 23/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền và thời hạn kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm,
- - Ngày 25/11/2024, ông Nguyễn Văn B1 kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu vô hiệu một phần hợp đồng tặng cho giữa ông B, bà L và anh L1 đối với thửa đất 23; công nhận cho ông B1 được sử dụng phần đất diện tích 127,2m² thuộc thửa 23 tờ bản đồ 11.
- - Ngày 26/11/2024, ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị L kháng cáo bản án sơ thẩm, ông bà yêu cầu: Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được lập ngày 27/11/2018 giữa ông B, bà L với anh L1; yêu cầu anh L1 trả lại phần đất diện tích 248,2m² (hiện ông N đang quản lý sử dụng) và phần đất diện tích 127,2m² thuộc một phần thửa 23 tờ bản đồ 11 để chuyển quyền sử dụng đất cho ông N và ông B1 sử dụng. Phần diện tích đất còn lại của thửa 23 và toàn bộ diện tích thửa đất số 55 cùng tờ bản đồ 11 để cho ông B, bà L và anh L1 cùng đứng tên đồng sở hữu chung; Yêu cầu Ngân hàng N1 - Chi nhánh thành phố S giao trả lại cho ông B, bà L giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 55 tờ bản đồ 11 (hiện anh L1 đứng tên).
- - Ngày 26/11/2024, anh Hồ Nguyễn Út L1 kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu ông N tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản; trả lại phần đất diện tích 248,2m² thuộc một phần thửa đất 23 tờ bản đồ 11 cho anh L1 sử dụng.
Tại phiên tòa phúc thẩm;
- + Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị L; ông Nguyễn Văn B1, anh Hồ Nguyễn Út L1 vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.
- + Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến: Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn B1, anh Hồ Nguyễn Út L1 là không có căn cứ; nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận
kháng cáo của ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn B1, anh Hồ Nguyễn Út L1 giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm; sau khi nghe ý kiến của các đương sự và quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét kháng cáo của Ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn B1, anh Hồ Nguyễn Út L1, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1.1] Phần đất tranh chấp trong vụ án gồm: thửa 23, diện tích 2.182,1m² và thửa 55, diện tích 5.490,4m², cùng tờ bản đồ số 11, đất tại xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, do bị đơn Hồ Nguyễn Út L1 đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 19/3/2019.
Trong quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, các bên đương sự đều trình bày thống nhất nguồn gốc hai thửa đất này trước đây là của ông B và bà L, trong đó thửa 23, tờ bản đồ 11, diện tích 2.464m² được Ủy ban nhân dân thành phố S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ Nguyễn Văn B ngày 09/10/1993, cấp đổi lần 1 ngày 17/5/2004, lần 2 ngày 01/4/2011, có nguồn gốc là do cha mẹ ông B để lại và thửa đất số 516, tờ bản đồ 01, diện tích 5.376m² được Ủy ban thành phố S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ Nguyễn Văn B ngày 15/5/2003, cấp đổi sang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất ngày 17/02/2011, thuộc thửa 55 tờ bản đồ 11, có nguồn gốc là do ông B và bà L nhận chuyển nhượng; ngày 27/11/2018 ông B, bà L lập hợp đồng tặng cho toàn bộ hai thửa đất này cho anh L1; ngày 19/3/2019 anh L1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất như hiện nay.
Căn cứ khởi kiện, ông B, bà L cho rằng do ông bà đều đã lớn tuổi, để thuận tiện việc đi lại sau này, nên ông bà thống nhất giao cho anh L1 là con trai út sống chung nhà được đứng tên các thửa đất trên nhưng phải có nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng ông bà, đồng thời, phải tách thửa, chuyển quyền sử dụng đất cho hai anh ruột là Nguyễn Văn B1, Nguyễn Văn N đối với phần diện tích đất mà cụ B, cụ L đã cho ông B1, ông N sử dụng (phần đất cho ông N thì ông N đã cất nhà ở); tuy nhiên, sau khi được đứng tên, anh L1 không còn quan tâm chăm sóc cha mẹ lúc ốm đau, bệnh tật, bỏ mặc cha mẹ tự lo cơm nước, sinh hoạt hàng ngày; cũng không đồng ý tiến hành các thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho hai người anh của anh L1; nên ông B, cụ L yêu cầu hủy một phần hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất nói trên đối với anh L1. Tuy nhiên, lời trình bày và yêu cầu này của ông B, bà L là không có cơ sở, bởi vì: phía anh L1 không thừa nhận; mặt khác, trong hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 27/11/2018 giữa ông B, bà L với anh L1 không có nội dung thỏa thuận về điều kiện tặng cho như trên, tức xác định là hợp đồng tặng cho không có điều kiện; tại thời điểm tặng cho ông B, bà L cũng hoàn toàn minh mẫn, tỉnh táo; hai thửa đất tặng cho 02 cụ cũng đã giao cho anh L1 quản lý, sử dụng và anh L1 cũng đã được cấp quyền sử dụng đất. Vì vậy, việc Tòa án
cấp sơ thẩm đã xét xử không chấp nhận yêu cầu của ông B và bà L về việc yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số công chứng 10021 ngày 27/11/2018 giữa ông bà với anh L1; yêu cầu anh L1 trả lại quyền sử dụng đất thuộc thửa 55, 23, tờ bản đồ số 11; yêu cầu Ngân hàng N1 trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 958662 ngày 19/3/2019 (thửa 55) hiện anh L1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, là có căn cứ, đúng pháp luật.
[1.2] Xét yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn N về việc tuyên vô hiệu một phần hợp đồng tặng cho ngày 27/11/2018 giữa ông B, bà L và anh L1; công nhận cho ông N được sử dụng phần đất diện tích 248,2m² thuộc một phần thửa 23 tờ bản đồ 11 và yêu cầu của anh L1 về việc yêu cầu ông N tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản có trên phần đất trả lại phần đất diện tích 239m² (trong tổng diện tích 248,2m² ông N đang quản lý) thuộc một phần thửa đất 23 do anh L1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Hội đồng xét xử xét thấy: Khi ông B, bà L tặng cho anh L1 thửa đất số 23 thì trên đất đã có căn nhà kiên cố của gia đình ông N đang ở, có diện tích sử dụng tổng cộng là 248,2m², nhưng giữa các bên không có thỏa thuận gì đối với phía ông N; ông B và bà L xác định là ông bà đã cho gia đình ông N diện tích đất này từ trước thời điểm tặng cho đất anh L1; từ sau khi anh L1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến nay, gia đình ông N vẫn ở trên đất mà không có ai tranh chấp; phía anh L1 thì cho rằng khi tặng cho anh L1 phần đất này, giữa ông N và anh L1 có thỏa thuận miệng khi nào anh L1 cần sử dụng đất thì ông N sẽ di dời tài sản trả đất cho anh L1 sử dụng nhưng anh L1 không có chứng cứ gì để chứng minh. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử chấp nhận yêu cầu của ông N, xác định hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 27/11/2018 giữa ông B, bà L với anh L1 vô hiệu một phần đối với diện tích đất 248,2m² thuộc một phần thửa đất 23, tờ bản đồ 11 loại đất thổ (phần đất có công trình, tài sản của ông N trên đất), đồng thời không chấp nhận yêu cầu của anh L1 về việc yêu cầu cầu ông N di dời nhà trả lại phần đất diện tích 239m² (trong tổng diện tích đất ông N đang quản lý, sử dụng), là phù hợp.
[1.3] Xét yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn B1 về việc về việc tuyên vô hiệu một phần hợp đồng tặng cho ngày 27/11/2018 giữa ông B, bà L và anh L1; yêu cầu công nhận cho ông B1 được sử dụng phần đất diện tích 127,2m² thuộc một phần thửa đất 23 tờ bản đồ 11 loại đất thổ, Hội đồng xét xử xét thấy: Ông B1 cho rằng, năm 2014 ông B1 được ông B, bà L cho phần đất diện tích khoảng 100m², đo đạc thực tế là 127,2m², để cất nhà ở nhưng do đi làm xa nên đến nay ông chưa sử dụng. Tuy nhiên, lời trình bày của ông B1 là không có căn cứ vì ông B1 không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh. Mặt khác, từ trước đến nay ông B1 cũng không trực tiếp quản, lý sử dụng diện tích đất này mà diện tích đất do ông B1 xác định là đất trống và do anh L1 đang quản lý. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm bác toàn bộ yêu cầu của ông B1 cũng là có căn cứ.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn B1, anh Hồ Nguyễn Út L1 cũng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn B1, anh Hồ Nguyễn Út L1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Tại phiên tòa, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: qua diễn biến tại phiên tòa cho thấy việc tặng cho đất là có điều kiện, nên nay phía bị đơn không thực hiện đúng thỏa thuận về điều kiện cho đất thì phải trả lại đất cho nguyên đơn. Hội đồng xét xử xét thấy lời trình bày trên của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là không có cơ sở như nhận định trên của Hội đồng xét xử, nên không chấp nhận.
[4] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu về việc tuân thủ pháp luật từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đều thực hiện đúng quy định của pháp luật và không có kiến nghị. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đề xuất hướng giải quyết là không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn B1, anh Hồ Nguyễn Út L1, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị trên là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.
[5] Về án phí phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm được giữ nguyên nên ông Nguyễn Văn B, bà Lê Thị Kim L3, ông Nguyễn Văn B1, anh Hồ Nguyễn Út L1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm., nhưng ông B, bà L3, ông B1 là người cao tuổi nên được miễn theo quy định.
[6] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122 và Điều 500 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- - Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn B, bà Lê Thị Kim L3, ông Nguyễn Văn B1 và anh Hồ Nguyễn Út L1.
- - Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 123/2024/DS-ST ngày 11 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc.
- Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị L về việc: Yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số công chứng 10021 ngày 27/11/2018; yêu cầu anh L1 trả lại quyền sử dụng đất thuộc thửa 55, 23 cùng tờ bản đồ 11; yêu cầu Ngân hàng N1 trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 958662 ngày 19/3/2019 (thửa 55).
- Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn B1 về việc yêu cầu công nhận cho ông Nguyễn Văn B1 được sử dụng phần đất diện tích 127,2m².
- Không chấp nhận yêu cầu của anh Hồ Nguyễn Út L1 về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn N di dời tài sản trả lại diện tích 239m² (trong tổng diện tích 248,2m² ông N đang quản lý).
- Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn N.
- - Tuyên bố vô hiệu một phần hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số công chứng 10021 ngày 27/11/2018 giữa cụ Nguyễn Văn B, cụ nguyễn Thị L, chị Võ Thị Mỹ X và anh Hồ Nguyễn Út L1.
- - Công nhận cho ông Nguyễn Văn N được quyền sử dụng đất diện tích 248,2m² thuộc một phần thửa 23, tờ bản đồ 11, loại đất thổ do anh Hồ Nguyễn Út L1 đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thể hiện tại các mốc M7 – M10 – M5 – M6 – M7 (theo sơ đồ đo đạc ngày 26/7/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S (hiện ông N đang quản lý, sử dụng).
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện độc lập của Ngân hàng N1 về việc yêu cầu anh Hồ Nguyễn Út L1 trả nợ.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá và đo đạc:
- - Ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị L phải chịu toàn bộ chi phí thẩm định, định giá, đo đạc số tiền là 9.510.090 đồng (đã nộp đủ và chi xong)
- - Anh Hồ Nguyễn Út L1 phải chịu chi phí thẩm định tại chỗ và định giá số tiền là 1.400.000 đồng (đã nộp đủ và chi xong).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn B1 phải chịu án phí đối đối yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận; nhưng được miễn nộp án phí do là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp án phí.
- - Anh Hồ Nguyễn Út L1 phải chịu án 300.000đồng phí dân sự sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng anh L1 đã nộp theo biên lai thu số 0004221 ngày 31/5/2024 được khấu trừ vào án phí phải nộp.
- - Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn N số tiền tạm ứng án phí 10.935.000đồng đã nộp ngày 18/7/2023 theo biên lai thu số 0003074 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
Đề nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 958661 đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp cho anh Hồ Nguyễn Út L1 ngày 19/3/2019 đối với thửa đất 23 tờ bản đồ 11 để điều chỉnh cấp lại cho ông Nguyễn Văn N diện tích 248,2m² theo bản án đã tuyên.
Các bên đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để đăng ký, kê khai, cấp đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
(Có Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 26/7/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S, Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ và Biên bản định giá tài sản kèm theo).
- Hoàn trả cho Ngân hàng N1 số tiền tạm ứng án phí 1.781.000 đồng theo biên lai thu số 0007807 ngày 23/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp
- Về án phí phúc thẩm:
- - Ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn B1 phải chịu án phí phúc thẩm nhưng được miễn do là người cao tuổi.
- - Anh Hồ Nguyễn Út L1 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà anh đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0008006 ngày 26/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc.
- - Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy |
Bản án số 188/2025/DS-PT ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng tặng cho qsdđ; tranh chấp qsdđ, tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp qsdđ
- Số bản án: 188/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tặng cho QSDĐ; Tranh chấp QSDĐ, Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp QSDĐ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: 1. Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1929; 2. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1929. Cùng địa chỉ: Số C, ấp K, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. Người đại diện ủy quyền: Anh Huỳnh Hữu T, sinh năm 1971 Địa chỉ: Số I, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp (theo văn bản ủy quyền ngày 24/01/2024). Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông B, bà L là luật sư Huỳnh Thanh T1, Văn phòng L4, thuộc đoàn luật sư tỉnh Đ. - Bị đơn: Anh Hồ Nguyễn Út L1, sinh năm 1979. Địa chỉ: Số C, ấp K, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
