|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 188/2025/HNGĐ-ST Ngày: 21 - 3 - 2025 “V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Hoà
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Ngọc Bờ
Bà Trương Thị Thu Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Mỹ Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa: Không.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 818/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Quyền, sinh năm 1976. Địa chỉ: 22/700, ấp Cầu Dây, xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. (Có mặt)
- Bị đơn: Ông Lê Văn Chót, sinh năm 1968. Địa chỉ: Tổ 10, khóm Vĩnh An, thị trấn Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng bà Nguyễn Thị Quyền trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Năm 2011, bà Quyền và ông Chót do tự tìm hiểu và đăng ký hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Vĩnh Thanh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, về sau phát sinh mâu thuẫn do ông Chót thường xuyên ăn nhậu, không chăm lo cho cuộc sống gia đình. Ngoài ra, nhận thấy tính tình vợ chồng không hợp với nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cải vã lẫn nhau. Vợ chồng bà đã cố gắng hàn gắng nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Từ tháng 6/2024, vợ chồng bà đã ly thân đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, không thể hàn gắn, bà yêu cầu được ly hôn với ông Lê Văn Chót.
- Về con chung: Ông bà có 01 con chung tên Lê Minh Nhân, sinh ngày 07/01/2012. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được nên con chung. Không yêu cầu ông Chót cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn Lê Văn Chót trình bày: Quá trình tiến đến hôn nhân như sự trình bày của bà Quyền. Tuy nhiên giữa vợ chồng ông không có mâu thuẫn, là vợ ông tự ý bỏ về nhà con gái ở từ tháng 06/2024. Vì ông còn thương vợ con nên ông không đồng ý ly hôn với bà Quyền; Về con chung, nợ chung, tài sản chung do ông không đồng ý ly hôn với bà Quyền nên không yêu cầu giải quyết những vấn đề này.
Tại phiên toà,
Bà Nguyễn Thị Quyền trình bày: Bà vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Trong suốt thời gian chung sống vợ chồng rất thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, bà đã bỏ về nhà cha mẹ ruột ở nhiều lần, sau đó ông Chót đến năn nỉ trở về chung sống nhưng sau đó lại không sửa đổi. Lần cuối cùng bà bỏ về nhà cha mẹ ruột ở là khoảng tháng 6/2024 đến nay, nay bà quyết tâm ly hôn với ông Chót vì thấy mâu thuẫn đã rất trầm trọng không thể hàn gắn được. Khi bà bỏ về nhà cha mẹ ruột ở thì bà có dẫn con theo nhưng ông Chót vào la chửi, đe dọa nên bà cho con về ở ông Chót đến nay.
Ông Lê Văn Chót trình bày: Ông không đồng ý ly hôn với bà Quyền, do ông còn thương bà Quyền, ông với bà Quyền đã ly thân từ tháng 6/2024 đến nay do quá trình chung sống vợ chồng ông thường phát sinh nhiều mâu thuẫn, bà Quyền đã bỏ đi nhiều lần do chồng cũ của bà Quyền về. Tuy nhiên, trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn thì ông yêu cầu được nuôi dưỡng con do con đang sống với ông, ông không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, đối với tài sản và nợ không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
- Về quan hệ tranh chấp: Bà Nguyễn Thị Quyền yêu cầu ly hôn và nuôi con với ông Lê Văn Chót. Do đó, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
- Về thẩm quyền: Ông Lê Văn Chót có địa chỉ cư trú tại địa bàn huyện Châu Phú nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về tài liệu, chứng cứ: Toà án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, các đương sự không ai phản đối. Do đó, Toà án xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được công khai, tiếp cận để giải quyết vụ án theo quy định.
- Về sự vắng mặt, có mặt của đương sự: Các đương sự đều có mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử là phù hợp quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân:
Thấy rằng, bà Nguyễn Thị Quyền và ông Lê Văn chót đã tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Vĩnh Thạnh Trung (nay là thị trấn Vĩnh Thạnh Trung), huyện Châu Phú. Do đó, hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng.
Bà Nguyễn Thị Quyền cho rằng trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống và cảm thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể hàn gắn được nên ông bà đã sống ly thân từ tháng 6/2024 đến nay. Thấy rằng, quá trình chuẩn bị xét xử toà án đã thực hiện thủ tục hoà giải để tạo điều kiện cho vợ chồng đoàn tụ, mặc dù ông Chót còn thương vợ không đồng ý ly hôn nhưng bà Nguyễn Thị Quyền vẫn kiên quyết giữ nguyên yêu cầu ly hôn. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tiếp tục vận động vợ chồng đoàn tụ nhưng bà Quyền vẫn quyết tâm giữ yêu cầu ly hôn với ông Chót. Điều này chứng tỏ bà Nguyễn Thị Quyền không còn mong muốn tiếp tục chung sống với ông Lê Văn Chót.
Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định, “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị Quyền và ông Lê Văn Chót đã ly thân từ tháng 6/2024 đến nay là một khoảng thời gian dài, từ ngày hòa giải đến nay ông bà vẫn chưa tạo điều kiện cho nhau gặp gỡ để tìm cách hàn gắn. Điều này thể hiện ông bà đã không thực hiện được tình nghĩa của vợ chồng theo quy định của pháp luật. Do đó, ông bà đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình quy định “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hoà giải tại Toà án không thành thì Toà án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”
Từ những phân tích trên, thấy rằng yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Quyền đối với ông Lê Văn Chót là phù hợp các quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.
- Về quan hệ con chung:
Thấy rằng, ông bà có 01 con chung tên tên Lê Minh Nhân, sinh ngày 07/01/2012. Mặc dù con chung đang do ông Lê Văn chót trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tuy nhiên, cháy Lê Minh Nhân có văn bản trình bày ý kiến là có nguyện vọng sống chung với bà Nguyễn Thị Quyền do ông Lê Văn Chót thường xuyên la gầy. Điều này thể hiện quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục ông Lê Văn Chót chưa có phương pháp giáo dục, chăm sóc, nuôi dưỡng con một cách tốt nhất. Do đó, nhằm đảm bảo sự ổn định về tâm lý, cuộc sống và sinh hoạt của cháu, cũng như tôn trọng nguyện vọng của cháu Lê Minh Nhân Hội đồng xét xử giao cháu Lê Minh Nhân cho bà Nguyễn Thị Quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con, thấy rằng bà Nguyễn Thị Quyền không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, ông Lê Văn Chót không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung:
Thấy rằng, giữa bà Nguyễn Thị Quyền và ông Lê Văn Chót không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí:
Thấy rằng, bà Nguyễn Thị Quyền là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Ông Lê Văn Chót không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Điểm a, b khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân:
- Về quan hệ con chung:
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
- Về án phí:
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; Đối với trường hợp đương sự đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án.
Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Quyền đối với ông Lê Văn Chót. Bà Nguyễn Thị Quyền và ông Lê Văn Chót ly hôn.
Giao con chung Lê Minh Nhân, sinh ngày 07/01/2012 cho bà Nguyễn Thị Quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Lê Văn Chót không phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi về cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà Nguyễn Thị Quyền phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng khấu trừ vào 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: 0009219 ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Võ Văn Hòa |
Bản án số 188/2025/HNGĐ-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 188/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
