|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số:188/2024/HSST Ngày: 10-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Đông và bà Trần Thị Hoa.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Quang Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Tới - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2024 tại Phòng xét xử A - Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 225/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 211/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024, thông báo về việc thay đổi lịch xét xử số 684/TB-TA ngày 27/11/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Đức A, sinh năm 1987, tại Hưng Yên (có mặt)
Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Hưng Yên. Nghề nghiệp:không; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo:không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1950 và bà Chu Thị P, sinh năm 1957; Anh chị em ruột 06 người, bị cáo là con út trong gia đình, vợ Đinh Thị L, sinh năm 1990, có 03 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/08/2024 tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Đ cho đến nay.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Đức A là đối tượng nghiện ma túy từ đầu năm 2024, loại ma túy mà Đức A sử dụng là ma túy đá.
Vào khoảng 14 giờ ngày 08/8/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Đức A đến đoạn đường thuộc thành phố H, tỉnh Hưng Yên gặp người tên H (không rõ nhân thân, lai lịch) mua một bịch ma tuý đá với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, Đức A cất giấu trên người để sử dụng.
Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Đức A gặp người bạn tên Trần Anh T1, sinh năm 1995, trú tại: Phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh nên T1 rủ Đức A đến khu vực xã S, huyện Đ để mua sầu riêng mang về miền B tiêu thụ thì Đức A đồng ý.
Khoảng 08 giờ ngày 10/8/2024, Đức A và T1 đến vựa sầu riêng tại xã S, huyện Đ. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, Đức A mượn xe mô tô biển số 60F4 - 32625 của chị Phạm Thị T2 (là chủ vựa sầu riêng) để đi mua cơm. Khi Đức A đi đến đường K, tỉnh lộ 763 thuộc ấp A, xã S do không đội mũ bảo hiểm và có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy nên Đức A bị lực lượng Công an yêu cầu dừng phương tiện kiểm tra. Tiến hành test nhanh chất ma túy trong cơ thể, phát hiện Đức A dương tính với ma túy dạng Methamphetamine. Tiếp tục kiểm tra người Đức A đã phát hiện và bắt quả tang Đức A có hành vi "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Vật chứng thu giữ:
- - 01 bịch nylon hàn kín, dạng túi Z, bên trong có chứa hạt tinh thể màu trắng được Đức A cất giấu ở trong túi quần thun phía trước bên phải;
- - 01 xe mô tô biển số 60F4 - 32625.
Bản kết luận giám định số 1586/KL-KTHS ngày 16/8/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Đ, xác định:
+ Mẫu tinh thể màu trắng được hàn kín, đã niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,7416 gam, loại: Methamphetamine.
Theo cáo trạng số 350/CT-VKSÐQ ngày 15/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đức A mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy 01 gói niêm phong vụ số 1586/KL - KTHS của Phòng K - Công an tỉnh Đ (sau giám định).
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tội danh: Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 10/8/2024, tại ấp A, xã S, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, Đội cảnh sát giao thông – trật tự, Công an huyện Đ, phối hợp với Công an xã S bắt quả tang Nguyễn Đức A đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, có khối lượng: 0,7416 gam, loại Methamphetamine. Hành vi của Đức A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như Viện kiểm sát đã viện dẫn và truy tố là đúng người đúng tội.
[2] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, cha mẹ già yếu, có cha ruột là thương binh, bệnh binh, có công với cách mạng được tặng Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng 3, huy chương kháng chiến hạng nhất, có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, đang nuôi 03 con còn nhỏ. Các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo Đức A được quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4] Căn cứ quyết định hình phạt: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, là 01 trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Vì vậy Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển... trái phép chất ma túy. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét áp dụng cho bị cáo 01 mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, cải tạo, giáo dục. Tuy nhiên, do bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ như trên nên xem xét giảm nhẹ 01 phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.
[5] Về vật chứng và các vấn đề khác:
- Vật chứng vụ án:
01 gói niêm phong vụ số 1586/KL - KTHS của Phòng K - Công an tỉnh Đ (sau giám định) là vật cấm lưu hành và sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy;
Đối với Trần Anh T1 không liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Đức A nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Đối với xe mô tô biển số 60F4 – 32625, do ông Trần Văn T3, sinh năm 1976, trú tại: Số B, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đứng tên chủ sở hữu. Vào tháng 02/2023, ông T3 cho chị Phạm Thị T2, sinh năm 1985, trú tại: Thôn N, xã N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên mượn để dùng làm phương tiện đi lại. Vào ngày 10/8/2024, Nguyễn Đức A mượn xe của chị T2 dùng làm phương tiện đi lại, việc Đức A sử dụng chiếc xe để thực hiện hành vi phạm tội chị T2 không biết. Hiện, đã trao trả chiếc xe cho chủ sở hữu theo thủ tục hành chính.
Đối với đối tượng “Hùng” ở khu vực thành phố H, tỉnh Hưng Yên đã bán ma túy cho Nguyễn Đức A. Căn cứ vào đặc điểm nhận dạng của Đức A khai báo, Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm kèm theo kế hoạch truy tìm đối tượng nhưng chưa có kết quả nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau.
Đối với hành vi “Điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy; Không đội mũ bảo hiểm cho người đi mô tô xe máy khi điều khiển xe giao thông trên đường bộ” do Nguyễn Đức A thực hiện, Công an huyện đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đức A với tổng số tiền xử phạt là 7.500.000 đồng, hình thức xử phạt bổ sung là tước quyền sử dụng giấy phép lái xe thời hạn 23 tháng đối với hạng A1.
[6] Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Xét quan điểm của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 2, Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- - Điểm a, khoản 1, Điều 23 của Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- - Áp dụng: Điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức A phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý ”.
1.1 Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức A 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/08/2024.
Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
2. Vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy: 01 gói niêm phong vụ số 1586/KL - KTHS ngày 16/8/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Đ (sau giám định) theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Định Quán.
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức A phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đức A có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Lan |
Bản án số 188/2024/HSST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 188/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyen Duc A - tang tru trai phep chat ma tuy
