Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAO BẰNG

TỈNH CAO BẰNG

Bản án số: 188/2024/HSST

Ngày: 29/11/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hanh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lã Văn Luật
2. Ông Nguyễn Văn Hoà
Thư ký phiên tòa: Bà Nông Triệu Bảo Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trường Long - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến tại điểm cầu trung tâm là Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng và điểm cầu thành phần là phòng hỏi cung Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng vụ án hình sự thụ lý số: 161/2024/TLST- HS ngày 17 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 278/2024/QĐXXST- HS ngày 18/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Lê Văn N, tên gọi khác: không; sinh ngày 22 tháng 4 năm 1985 tại huyện H, tỉnh Cao Bằng; HKTT và chỗ ở hiện nay: xóm N, xã L, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông: Lê Minh T, sinh năm 1959; con bà: Hoàng Thị T1, sinh năm 1959; Vợ, con: không có; Anh, chị, em ruột: bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 03 chị em; Tiền sự: Không; Tiền án: không.

    Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng theo Quyết định tạm giam số 243 ngày 17/10/2024 của Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, từ ngày 24/6/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

  2. Họ và tên: Hoàng Văn S, tên gọi khác: không; sinh ngày 25 tháng 7 năm 1985 tại huyện C, tỉnh Lạng Sơn; HKTT: thôn Q, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; chỗ ở hiện nay: tổ D, phường D, thành phố C tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông: Hoàng Văn T2, đã chết; con bà: Vi Thị N1, đã chết; Vợ, con: không có; Anh, chị, em ruột: bị cáo là con thứ bảy trong gia đình có 07 chị em; Tiền án: không; Tiền sự: có 01 tiền sự: Ngày 30/9/2021 Toà án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn ra quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 01 năm 08 tháng.

    Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng theo Quyết định tạm giam số 244 ngày 17/10/2024 của Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, từ ngày 24/6/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Hoàng Văn H, sinh năm 1987

Trú tại: xóm N, xã L, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt có lý do.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn N: Ông Nông Văn D - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp lý nhà nước tỉnh C thuộc Sở Tư pháp tỉnh Cao Bằng. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ ngày 24/6/2024, Lê Văn N (sinh ngày: 22/4/1985, trú tại: xóm N, xã L, huyện H, tỉnh Cao Bằng) điều khiển xe mô tô Honda wave biển kiểm soát 11F7-6075 do Nhất mượn của Hoàng Văn H (sinh ngày: 18/8/1987; trú tại: xóm N, xã L, huyện H, tỉnh Cao Bằng) đi từ nhà tại xóm N, xã L, huyện H, tỉnh Cao Bằng đến khu vực cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh C để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Khi đến khu vực cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh C, N dừng xe vào uống nước tại một quán nước thì gặp Hoàng Văn S (sinh ngày: 25/7/1985; trú tại: tổ D, phường D, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) cũng đang uống nước tại đây. Qua nói chuyện Nhất biết S cũng đang tìm mua ma túy để sử dụng nên N cùng S thống nhất cùng góp tiền để mua ma túy về sử dụng chung. S đưa cho N 200.000,₫ (hai trăm nghìn đồng) và Nhất góp thêm 300.000,đ (ba trăm nghìn đồng) được số tiền 500.000,đ (năm trăm nghìn đồng). Nhất mang số tiền 500.000,đ (năm trăm nghìn đồng) trên đến gặp một người đàn ông lạ mặt cũng đang ở khu vực cổng bệnh viện và hỏi mua với người đó 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) H1, người đàn ông đồng ý, nhận tiền rồi bảo N đợi, sau đó đi khoảng 20 phút sau quay lại đưa cho N 01 (một) gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa Heroine. Sau khi mua được ma túy, N điều khiển xe mô tô chở S đi tìm nơi sử dụng. Trên đường đi, S vào một hiệu thuốc mua 02 (hai) xilanh kim tiêm và 02 (hai) lọ novocain, sau đó cả hai đến khu vực đất trống tại tổ A, phường T, thành phố C, Nhất tách một ít từ số H mua được ra đưa cho S và S sử dụng bằng hình thức hít, một ít Nhất cho vào xilanh kim tiêm và tự sử dụng bằng hình thức tiêm chích vào cơ thể. Phần Heroine còn lại chưa sử dụng hết N và S thống nhất để cùng nhau sử dụng chung vào lần sau nên N gói lại rồi đưa cho S cất giữ. Sau khi N và S sử dụng xong Heroine, cả hai quay lại khu vực cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh C (thuộc tổ A, phường T, thành phố C) thì bị cơ quan Công an phường T phát hiện bắt quả tang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy vào khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày. Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói giấy bạc màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng đục dạng cục lẫn bột do Nguyễn Văn S1 đang cầm trong lòng bàn tay phải tự giác giao nộp cho cơ quan Công an; 01 (một) xe mô tô Honda wave màu đỏ, biển kiểm soát: 11F7-6075, xe cũ đã qua sử dụng; 01 (một) bơm kim tiêm, 01 (một) lọ novocain chưa qua sử dụng; 01 (một) thẻ căn cước công dân số [...] mang tên Hoàng Văn S.

Vào hồi 18 giờ 30 phút ngày 24/6/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng chất bột màu trắng thu giữ của N và S có khối lượng 0,11g (không phẩy mười một gam).

Ngày 25/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C ra Quyết định trưng cầu giám định số 899 đối với vật chứng của vụ án. Tại Bản kết luận giám định số 396 ngày 01/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận: "mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine (Heroin)”.

Tại bản Cáo trạng số: 169/CT-VKSTP ngày 17/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị can Lê Văn N và Hoàng Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa các bị cáo Lê Văn N và Hoàng Văn S nhất trí với nội dung bản Cáo trạng và trọng lượng ma túy bị thu giữ, kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh C. Các bị cáo khai nhận cùng nhau góp tiền mua H1 về sử dụng, N góp số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) và S góp số tiền 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng), sau khi mua được ma tuý cả hai chia nhau sử dụng một phần, số ma tuý còn lại cất giấu nhằm mục đích sử dụng. Các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án. Về tài sản thu giữ : bị cáo S có yêu cầu được trả lại 01 (một) thẻ căn cước công dân số [...] mang tên Hoàng Văn S.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hoàng Văn H có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà và có yêu cầu được trả lại 01 (một) chiếc xe mô tô màu đỏ nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 11F7- 6075.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, tuyên bố các bị cáo Lê Văn N, Hoàng Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Văn S từ 15 đến 18 tháng tù, bị cáo Lê Văn N từ 12 đến 15 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy: số ma tuý trong 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi số 396/KL-KTHS, hoàn mẫu sau giám định vụ Hoàng Văn S, hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy; 01 (một) bơm kim tiêm, 01 (một) lọ Novocain; 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “Vỏ tang vật Hoàng Văn S, Lê Văn N, hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Bắt ngày 24/6/2024".

Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn S 01 căn cước công dân số [...] mang tên Hoàng Văn S.

Trả lại cho ông Hoàng Văn H 01 (một) xe mô tô màu đỏ nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 11F7-6075.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định pháp luật.

Tại phần tranh luận, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn N trình bày: Nhất trí với đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng về tội danh và điều luật truy tố đối với bị cáo. Tuy nhiên, khi lượng hình phạt cần xem xét các tình tiết sau: bị cáo Lê Văn N có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, tàng trữ khối lượng 0,11g Heroine ở mức khởi điểm khung hình phạt. Tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất mức đề nghị hình phạt của đại diện Viện kiểm sát. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí: Bị cáo Lê Văn N thuộc hộ cận nghèo, có đơn xin miễn án phí nên đề nghị cho bị cáo được miễn án phí theo quy định pháp luật.

Khi được nói lời sau cùng, bị cáo Lê Văn N có ý kiến mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời.

Bị cáo Hoàng Văn S nhận thức được hành vi của mình là sai trái và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội và điều khoản xét xử: Tại cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản lấy lời khai, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được thể hiện trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: Hồi 12 giờ 30 phút ngày 24/6/2024 tổ Công an phường T, thành phố C làm nhiệm vụ tại khu vực tổ A, phường T, thành phố C phát hiện và bắt quả tang Lê Văn N và Hoàng Văn S có hành vi tàng trữ trái phép 0,11g (không phẩy mười một gam) Heroine do N và S cùng góp tiền mua về nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại nhiều mặt của ma túy, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích thỏa mãn cơn nghiện cho bản thân. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất gây nghiện. Như vậy, hành vi của các bị cáo Lê Văn N và Hoàng Văn S đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Lê Văn N có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự.

Bị cáo Lê Văn S2 có nhân thân xấu, có 01 tiền sự: Ngày 30/9/2021 Toà án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn ra quyết định đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc 01 năm 08 tháng.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt chính: Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi bị cáo gây ra, trọng lượng ma tuý tàng trữ và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình trật tự trị an trên địa bàn thành phố. Các bị cáo sử dụng ma tuý thời gian dài nhưng không có ý thức tu dưỡng rèn luyện bản thân nên cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Trong vụ án này các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội tự phát, không có sự bàn bạc, phân công vai trò nên hành vi của các bị cáo là đồng phạm giản đơn không phải là phạm tội có tổ chức. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự như nhau về hành vi các bị cáo gây ra. Tuy nhiên, bị cáo S2 là người có nhân thân xấu, có 01 tiền sự chưa được xoá án tích lại tiếp tục phạm tội nên phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo N.

Xét thấy, mức đề nghị hình phạt tù có thời hạn của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng đối với các bị cáo và người bào chữa cho bị cáo Lê Văn N tại phiên toà là phù hợp và tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nên được chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo đều là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Về việc xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ, trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Vật chứng thu giữ gồm:

Số ma tuý trong 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi số 396/KL-KTHS, hoàn mẫu sau giám định vụ Hoàng Văn S, hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xét thấy đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) bơm kim tiêm, 01 (một) lọ Novocain, 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “Vỏ tang vật Hoàng Văn S, Lê Văn N, hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý, bắt ngày 24/6/2024” do liên quan đến hành vi phạm tội.

Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn S 01 căn cước công dân số [...] mang tên Hoàng Văn S do không liên quan đến hành vi phạm tội.

Đối với 01 (một) xe mô tô màu đỏ nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 11F7-6075, xe cũ đã qua sử dụng thu đối với Lê Văn N. Qua điều tra xác minh, xác định chủ sở hữu chiếc xe là Hoàng Văn H. Ngày 24/6/2024, N mượn xe mô tô của H nhưng H không biết việc S sử dụng chiếc xe làm phương tiện để đi mua ma túy sử dụng nên cần trả lại chiếc xe cho chủ sở hữu.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Văn H không có yêu cầu xem xét về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo nên không đặt ra vấn đề xem xét, giải quyết.

[7] Trong vụ án này, về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ, N và S khai mua với một người đàn ông không quen, việc trao đổi mua bán không có ai biết và chứng kiến. Do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C không có đủ căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.

[8] Các ý kiến khác của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo Lê Văn N tại phiên tòa đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[9] Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Bị cáo Lê Văn N thuộc hộ cận nghèo, có đơn xin miễn án phí nên được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[10] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Tuyên bố: các bị cáo Lê Văn N và Hoàng Văn S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".Xử phạt bị cáo Lê Văn N 12 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 24/6/2024.

    Xử phạt bị cáo Hoàng Văn S 15 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 24/6/2024.

  2. Về việc xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, xử:
    • Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi số 396/KL-KTHS, hoàn mẫu sau giám định vụ Hoàng Văn S, hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy (Đã có Kết luận giám định số 396/KL-KTHS ngày 01/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh C); 01 (một) bơm kim tiêm, 01 (một) lọ nước cất; 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “Vỏ tang vật Hoàng Văn S, Lê Văn N, hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý, bắt ngày 24/6/2024".
    • Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn S 01 căn cước công dân số [...], mang tên Hoàng Văn S.
    • Trả lại cho Hoàng Văn H 01 (một) xe mô tô màu đỏ nhãn hiệu HONDA WAVE, biển kiểm soát 11F7-6075, số khung HHC09073Y867805; số máy HC09E-0687555. Xe cũ đã qua sử dụng, do xe đã cũ nên một số bộ phận của xe đã bị han gỉ, bạc màu, xe có 01 gương chiếu hậu bên trái. Xe có số khung số máy trùng khớp với phiếu trả lời xác minh xe ngày 10/7/2024 của Công an thành phố C cung cấp (xe có 01 chìa khoá kèm theo).
    • Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang nằm tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản bàn giao vật chứng số 09 ngày 17/10/2024.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Văn H không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự nên không đặt ra vấn đề xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Hoàng Văn S phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

    Bị cáo Lê Văn N được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

    Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ nhận được bản án tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • -Tòa án tỉnh Cao Bằng;
  • - Công an tỉnh Cao Băng;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Cao Bằng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Cao Bằng;
  • - Viện kiểm sát Tp Cao Bằng;
  • - Công an Tp Cao Bằng;
  • - Thi hành án DS Tp Cao Bằng;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 188/2024/HSST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 188/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Nhất xử phạt 12 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý Hoàng Văn Sang xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger