TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 188/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 29/11/2024
Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Lâm Nguyễn Thanh Huy; |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Nguyễn Thị Kim Hoa; |
| Bà Hà Thị Kim Thu. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mộng Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Thuộc trường hợp Viện Kiểm sát không tham gia phiên tòa.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 371/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp xin ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 177/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 102/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lương Thị S, sinh năm: 1983. Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Lê Hoàng A, sinh năm: 1983. Địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lương Thị S trình bày như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2009, chị và anh Lê Hoàng A tự tìm hiểu và yêu thương nhau, sau đó tiến đến hôn nhân, được hai bên gia đình thống nhất tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân (UBND) xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 25/10/2010. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị về sinh sống tại ấp B, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc, đến thời gian sau giữa chị và anh Lê Hoàng A phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vả, không còn tình cảm với nhau, dù đã cố gắng hàn gắn, nhưng bất thành và đã ly thân nhiều tháng nay. Vì các lý do trên, chị nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Lê Hoàng A.
- Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống với nhau, chị và anh Hoàng A có hai người con chung tên Lê Thống T, sinh ngày 13/12/2011 và Lê Thống N, sinh ngày 01/3/2019. Hiện nay, hai con đang sinh sống cùng với chị. Vì vậy, khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung đến tuổi trưởng thành, chị không yêu cầu anh Hoàng A phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị S xác nhận quá trình chung sống giữa chị và anh Hoàng A không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Bị đơn anh Lê Hoàng A:
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, nhưng anh Hoàng A đều vắng mặt, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh Hoàng A đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện chị Lương Thị S yêu cầu được ly hôn và nuôi con với anh Lê Hoàng A. Xét thấy đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn anh Lê Hoàng A có nơi cư trú tại tổ A, ấp B, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Lương Thị S có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Lê Hoàng A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, HĐXX có cơ sở xác định: Chị S1 và anh Hoàng A tự tìm hiểu và yêu thương nhau, sau đó tiến đến hôn nhân, được hai bên gia đình thống nhất tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được UBND xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 25/10/2010. Như vậy, hôn nhân giữa chị S với anh Hoàng A là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Xét yêu cầu của chị S về việc xin ly hôn với anh Hoàng A thấy rằng: Trong quá trình chung sống giữa chị S và anh Hoàng A có phát sinh mâu thuẫn, mà theo chị S cho rằng do chị và anh Hoàng A bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên cãi vả, không còn tình cảm với nhau, mặc dù đã cố gắng hàn gắn, nhưng bất thành và đã ly thân nhiều tháng nay. Chị S cũng xác định trong thời gian chị và anh Hoàng A sống ly thân với nhau, thì giữa chị và anh Hoàng A không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa, cũng không thực hiện quyền và nghĩa vụ chung của vợ chồng.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án, tiến hành giải thích pháp luật và động viên chị S bỏ qua mọi chuyện, cho anh Hoàng A thêm cơ hội để đoàn tụ gia đình và nuôi dạy con cái, nhưng chị S vẫn kiên quyết ly hôn với anh Hoàng A. Đồng thời Tòa án cũng tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Hoàng A nhiều lần, nhưng anh Hoàng A vẫn vắng mặt và không thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, điều này chứng tỏ anh Hoàng A cũng không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị S.
Từ đó thấy được mối quan hệ hôn nhân giữa chị S với anh Hoàng A đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn và mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc chị S yêu cầu được ly hôn với anh Hoàng A là có cơ sở.
Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, HĐXX chấp nhận cho chị S được ly hôn với anh Hoàng A.
[3.2] Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống với nhau, chị và anh Hoàng A có hai người con chung tên Lê Thống T, sinh ngày 13/12/2011 và Lê Thống N, sinh ngày 01/3/2019. Hiện nay, hai con đang sinh sống cùng với chị. Vì vậy, khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung đến tuổi trưởng thành, chị không yêu cầu anh Hoàng A phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
HĐXX xét thấy, từ khi chị S và anh Hoàng A sống ly thân với nhau cho đến nay, thì chị S là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai cháu và hiện hai cháu phát triển bình thường. Vì vậy, để đảm bảo ổn định cuộc sống và nhằm giúp hai cháu phát triển tốt về mọi mặt, nên tiếp tục giao cho chị S được chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục hai cháu tên Lê Thống T, sinh ngày 13/12/2011 và Lê Thống N, sinh ngày 01/3/2019 đến trưởng thành là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Do các đương sự không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét.
[3.4] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị S xác nhận giữa chị và anh Hoàng A không tài sản chung và nợ chung, nên chị S không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không giải quyết.
[4] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì chị Lương Thị S phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị S1 được ly hôn với anh Lê Hoàng A.
- Về quan hệ con chung: Giao hai cháu tên Lê Thống T, sinh ngày 13/12/2011 và Lê Thống N, sinh ngày 01/3/2019 cho chị Lương Thị S được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.
- - Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Do các đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
- - Về quyền thăm nom, chăm sóc con chung: Trong thời gian chị Lương Thị S nuôi con; anh Lê Hoàng A được quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Lương Thị S xác nhận giữa chị và anh Lê Hoàng A không tài sản chung và nợ chung, nên chị không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không giải quyết.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc chị Lương Thị S phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị S đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009569 ngày 08 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Chị Lương Thị S không phải nộp thêm.
- Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lâm Nguyễn Thanh Huy |
Bản án số 188/2024/HNGĐ-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp xin ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 188/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương Thị S kiện Lê Hoàng A
