Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 188/2024/HS-ST
Ngày: 22-10-2024

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH - TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hoàng Văn Đức.
  2. Bà Nguyễn Ngọc Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Quyên – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quang Dương – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 10 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 187/2024/HSST ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 192/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Văn T, sinh ngày 12/01/1991, tại tỉnh Thái Bình;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Giới tính: Nam; Con ông Trần Văn T1 và bà Nguyễn Thị H; Có vợ thứ nhất là Phạm Thị T2, (đã ly hôn) vợ thứ 2 là Nguyễn Thục S, có 03 con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • - Bản án số 03/2008/HSST ngày 11/01/2008 của Toà án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. T đã nộp xong tiền sung công và án phí ngày 31/10/2008.
  • - Bản án số 05/2009/HSST ngày 16/01/2009 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trẻ em”, tổng hợp hình phạt 06 tháng tù của bản án số 03/2008/HSST ngày 11/01/2008 của Toà án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/10/2008. Đến ngày 16/8/2014 chấp hành xong án phạt tù. Buộc T phải liên đới bồi thường 7.000.000 đồng cho Phạm Thị H1, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Khu T, thị trấn V, huyện V, tỉnh Thái Bình và Nguyễn Thị Lệ T3, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Xóm D, xã H, huyện V, tỉnh Thái Bình; Buộc bị cáo Trần Văn T phải nộp lại số tiền 1.400.000 đồng để xung công quỹ Nhà nước. Đến ngày 15/10/2010 T đã chấp hành xong tất cả nghĩa vụ trên.
  • - Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 18/QĐ-TA ngày 20/3/2017 của Toà án nhân dân thành phố Thái Bình đối với Trần Văn T, với thời hạn 15 tháng. Đến ngày 07/5/2019 T chấp hành xong về địa phương.
  • - Bản án số 59/2020/HS-ST ngày 24/5/2020 của Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt 18 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Đến ngày 18/5/2021 chấp hành xong án phạt tù, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 10/7/2020.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 08/7/2024 đến ngày 14/7/2024 chuyển tạm giam đến nay. Có mặt.

- Người chứng kiến:

  1. Anh Nguyễn Xuân H2, sinh năm 1971; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
  2. Anh Bùi Đình C, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Thôn T, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 08/7/2024, Trần Văn T đi bộ từ nhà đến khu vực Cầu M, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình thì gặp và mua của một người nam giới khoảng 40 tuổi không biết tên và địa chỉ 01 gói ma túy, loại heroine với giá 200.000 đồng. Thoại cất gói ma tuý vừa mua được vào túi quần bên trái đang mặc rồi đi bộ tìm chỗ để sử dụng. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày khi Trần Văn T đi bộ đến gần cổng khu công nghiệp P, thuộc đường N, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh T phát hiện. Tại đây, trước sự chứng kiến của anh Nguyễn Xuân H2 và anh Bùi Đình C, T đã tự giác lấy từ túi quần bên trái đang mặc ra giao nộp cho tổ công tác 01 gói được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục và khai nhận đó là ma túy, loại Heroine của T vừa mua về với mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã niêm phong vật chứng gửi đi giám định, kết quả giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,2055 gam. Sau đó tổ công tác yêu cầu Trần Văn T và mời những người chứng kiến về trụ sở Công an xã P, thành phố T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và làm các thủ tục khác theo quy định.

Bản kết luận giám định số 1056/KL-KTHS ngày 12/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: “Mẫu vật quản lý của Trần Văn T gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,2055 gam (Không phẩy hai nghìn không trăm năm mươi lăm gam)”. Heroin STT: 09 Danh mục IA phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ (bút lục số 13).

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận như trên. Lời khai của người chứng kiến là anh Nguyễn Xuân H2 và anh Bùi Đình C đều thể hiện như lời khai của bị cáo.

Tại bản cáo trạng số 195/CT-VKSTPTB ngày 04/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 35 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/7/2024. Đề nghị phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng để sung ngân sách nhà nước. Vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn trả sau giám định. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy lỗi lầm của mình là vi phạm pháp luật, hiện tại bị cáo 03 con nhỏ, vợ không có việc làm mong Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không phạt tiền đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người chứng kiến và còn được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản tạm giữ đồ vật tài sản; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an tỉnh T lập ngày 08/7/2024 tại trụ sở Công an xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Bản kết luận giám định số 1056/KL-KTHS ngày 12/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh T và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 08/7/2024 tại gần cổng khu công nghiệp P, thuộc đường N, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh T phát hiện bắt quả tang Trần Văn T có hành vi tàng trữ trái phép trên người 01 gói ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,2055 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân.

[3] Điều 249 Bộ luật Hình sự: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:... c) Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ... 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.” Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, như vậy cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước ta, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Bị cáo đã nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp luật.

[5] Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị đưa ra xét xử và bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Về hình phạt bổ sung: cần áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo để sung ngân sách nhà nước.

[6] Về vật chứng: Cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy số ma túy được hoàn trả sau giám định vì là vật cấm tàng trữ, lưu hành.

[7] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai mua của một người nam giới khoảng 40 tuổi tại khu vực Cầu M, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình nhưng không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47, Điều 50 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/7/2024.
  3. Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Trần Văn T 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.

  4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,1768 gam ma túy, loại Heroin (Heroine) được hoàn trả sau giám định và toàn bộ bao gói được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1056/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T.
  5. (Vật chứng có đặc điểm như trong Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình ngày 04/10/2024).

  6. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 22/10/2024.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình;
  • - CQCSĐT Công an thành phố Thái Bình;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 188/2024/HS-ST ngày 22/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH - TỈNH THÁI BÌNH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 188/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH - TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Th Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger