TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU TỈNH GIA LAI Bản án số: 188/2024/HSST Ngày: 20-9-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Ánh Tuyết
Bà Lê Thị Toan
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Thái Bình - Kiểm sát viên
Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 171/2024/HSST ngày 13 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 183/2024/QĐXXST-HS ngày 29-8-2024 đối với bị cáo:
PHẠM ĐÌNH T
(tên gọi khác: Không), sinh ngày 12/4/1989 tại Gia Lai; nơi cư trú: Thôn A, xã N, huyện C, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đình Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị H sinh năm 1949. Hiện mẹ bị cáo đang trú tại Thôn A, xã N, huyện C, tỉnh Gia Lai; bị cáo có 04 chị ruột; bị cáo có vợ: Phạm Thị M, sinh năm 1989, bị cáo có 01 con sinh năm 2014; hiện vợ của bị cáo đang trú tại thôn A, xã N, huyện C, tỉnh Gia Lai.
Tiền án: Không, tiền sự: Không.
Bị cáo Phạm Đình T bị khởi tố và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17-11-2023 cho đến nay. Hiện đang tại ngoại. Có mặt.
- Bị hại:
Ông Trương Thành V, sinh năm 1973; địa chỉ: C T, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1949; địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện C, tỉnh Gia Lai.
- Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ B, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai;
- Anh Hồ Văn S, sinh năm 1991; địa chỉ: Tổ B, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai;
- Chị Phan Thị Bích O, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ B, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai;
- Bà Phan Thị Bích T1, sinh năm 1978; địa chỉ: Tổ B, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai;
- Ông Trần Ngọc T2, sinh năm 1977; địa chỉ: Tổ A, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai;
- Anh Hồ Đức Q, sinh năm 1993; địa chỉ: Tổ B, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai;
- Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn B, xã S, huyện K, tỉnh Gia Lai;
- Bà Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1972; địa chỉ: Số H P, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai;
- Bà Nguyễn Thị Thúy V1, sinh năm 1978; địa chỉ: Số A P, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai;
- Bà Trần Thị N1, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn A, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai;
- Ông Phí Ngọc Đ1, sinh năm 1979; địa chỉ: Tổ B, thị trấn I, huyện I, tỉnh Gia Lai;
- Bà Trương Thị T3, sinh năm 1974; địa chỉ : Thôn C, xã A, thành phố P, tỉnh Gia Lai;
- Ông Huỳnh Văn T4, sinh năm 1957; địa chỉ: Số A Q, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai;
- Chị Nguyễn Thị Thu T5, sinh năm 1986; địa chỉ: B H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai;
- Bà Phạm Thị H1, sinh năm 1976; địa chỉ: Tổ A, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai;
- Anh Nguyễn Đình G, sinh năm 1981; địa chỉ: A Q, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai;
- Ông Nguyễn Hữu H2, sinh năm 1966; địa chỉ: Tổ A, phường A, thành phố P, tỉnh Gia Lai;
- Bà Trương Thị K1, sinh năm 1979; địa chỉ: Số A Q, thị xã A, tỉnh Gia Lai;
- Chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1989; địa chỉ: Số A T, thị trấn K, huyện M, tỉnh Gia Lai;
- Ông Trần Ngọc T6, sinh năm 1974; địa chỉ: Số A T, thị trấn K, huyện M, tỉnh Gia Lai.
(Bà H có mặt tại phiên tòa, tất cả những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Trên cơ sở kết quả điều tra, xác định được như sau:
Năm 2017, Phạm Đình T được nhận vào làm việc tại cửa hàng Đ3 số 30 đường T, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai, do ông Trương Thành V (sinh năm 1973) làm chủ (hai bên không ký kết hợp đồng lao động). Đến năm 2018, T được ông V giao chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại PCX, biển số 81B1-024.38 chở hàng điện máy đi bán cho các đại lý ở thành phố P và một số huyện trên địa bàn tỉnh Gia Lai, sau khi bán hàng xong thì nhận tiền từ các đại lý mang về đưa lại cho ông V, trường hợp đại lý chưa trả tiền thì T ghi vào sổ theo dõi để đại lý ký xác nhận đã nhận hàng mà chưa trả tiền. Trong quá trình đi bán hàng và nhận tiền cho ông V, T thấy các đại lý thường chậm trả tiền, ông V tin tưởng giao cho T nhận tiền từ các đại lý nên T đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. Trong năm 2020, T đã nhiều lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Trong năm 2020 (không rõ ngày, tháng), Phạm Đình T được ông Trương Thành V giao đi bán hàng điện máy, T đã chở hàng điện máy đến cửa hàng điện máy H4 tại Thôn C, xã A, thành phố P, tỉnh Gia Lai, do bà Trương Thị T3 (sinh năm 1974) làm chủ. Sau khi bán hàng điện máy cho bà T3, T nhận số tiền 4.030.000 đồng từ bà T3 nhưng không đưa lại cho ông V mà chiếm đoạt tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ hai: Trong năm 2020 (không rõ ngày, tháng), Phạm Đình T được ông Trương Thành V giao đi bán hàng điện máy, T đã chở hàng điện máy đến cửa hàng Đ3 tại số A đường Q, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai, do ông Nguyễn Đình G (sinh năm 1981) làm chủ. Sau khi bán hàng điện máy cho ông G, T nhận số tiền 31.460.000 đồng từ ông G nhưng không đưa lại cho ông V mà chiếm đoạt tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ ba: Trong năm 2020 (không rõ ngày, tháng), Phạm Đình T được ông Trương Thành V giao đi bán hàng điện máy, T đã chở hàng điện máy đến cửa hàng Đ4 tại số H đường P, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai, do bà Nguyễn Thị Tuyết N (sinh năm 1972) làm chủ. Sau khi bán hàng điện máy cho bà N, T nhận số tiền 12.095.000 đồng từ bà N nhưng không đưa lại cho ông V mà chiếm đoạt tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ tư: Trong năm 2020 (không rõ ngày, tháng), Phạm Đình T được ông Trương Thành V giao đi bán hàng điện máy, T đã chở hàng điện máy đến cửa hàng Đ5 tại số A đường P, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai, do bà Nguyễn Thị Thúy V1 (sinh năm 1978) làm chủ. Sau khi bán hàng điện máy xong, T nhận từ bà V1 số tiền 9.903.000 đồng nhưng không đưa lại cho ông V mà chiếm đoạt tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ năm: Trong năm 2020 (không rõ ngày, tháng), Phạm Đình T được ông Trương Thành V giao đi bán hàng điện máy, T đã chở hàng điện máy đến cửa hàng Đ6 tại tổ A, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai, do ông Trần Ngọc T2 (sinh năm 1977) làm chủ. Sau khi bán hàng điện máy xong, T nhận từ ông T2 số tiền 32.906.000 đồng nhưng không đưa lại cho ông V mà chiếm đoạt tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ sáu: Trong năm 2020 (không rõ ngày, tháng), Phạm Đình T được ông Trương Thành V giao đi bán hàng điện máy, T đã chở hàng điện máy đến cửa hàng Đ7 tại tổ B, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai, do ông Hồ Văn S (sinh năm 1991) làm chủ. Sau khi bán hàng điện máy xong, T nhận từ ông S số tiền 15.125.000 đồng nhưng không đưa lại cho ông V mà chiếm đoạt tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ bảy: Trong năm 2020 (không rõ ngày, tháng), Phạm Đình T được ông Trương Thành V giao đi bán hàng điện máy, T đã chở hàng điện máy đến cửa hàng Đ8 tại tổ B, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai, do bà Phan Thị Bích T1 (sinh năm 1978) làm chủ. Sau khi bán hàng điện máy xong, T nhận từ bà T1 số tiền 114.000 đồng nhưng không đưa lại cho ông V mà chiếm đoạt tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ tám: Trong năm 2020 (không rõ ngày, tháng), Phạm Đình T được ông Trương Thành V giao đi bán hàng điện máy, T đã chở hàng điện máy đến cửa hàng Đ9 tại tổ B, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai, do ông Hồ Đức Q (sinh năm 1973) làm chủ. Sau khi bán hàng điện máy xong, T nhận từ ông Q số tiền 2.250.000 đồng nhưng không đưa lại cho ông V mà chiếm đoạt tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ chín: Trong năm 2020 (không rõ ngày, tháng), Phạm Đình T được ông Trương Thành V giao đi bán hàng điện máy, T đã chở hàng điện máy đến cửa hàng Đ10 tại số A đường Q, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai, do bà Phạm Thị H1 (sinh năm 1976) làm chủ. Sau khi bán hàng điện máy xong, T nhận từ bà H1 số tiền 14.080.000 đồng nhưng không đưa lại cho ông V mà chiếm đoạt tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ mười: Trong năm 2020 (không rõ ngày, tháng), Phạm Đình T được ông Trương Thành V giao đi bán hàng điện máy, T đã chở hàng điện máy đến cửa hàng Đ11 tại tổ B, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai, do ông Nguyễn Văn B (sinh năm 1982) làm chủ. Sau khi bán hàng điện máy xong, T nhận từ ông B số tiền 650.000 đồng nhưng không đưa lại cho ông V mà chiếm đoạt tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ mười một: Trong năm 2020 (không rõ ngày, tháng), Phạm Đình T được ông Trương Thành V giao đi bán hàng điện máy, T đã chở hàng điện máy đến cửa hàng điện máy Thủy T7 tại số B đường H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai, do bà Nguyễn Thị Thu T5 (sinh năm 1986) làm chủ. Sau khi bán hàng điện máy xong, T nhận từ bà T5 số tiền 24.123.000 đồng nhưng không đưa lại cho ông V mà chiếm đoạt tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ mười hai: Trong năm 2020 (không rõ ngày, tháng), Phạm Đình T được ông Trương Thành V giao đi bán hàng điện máy, T đã chở hàng điện máy đến cửa hàng điện máy Lan Đ2 tại số A đường Q, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai, do ông Huỳnh Văn T4 (sinh năm 1957) làm chủ. Sau khi bán hàng điện máy xong, T nhận từ ông T4 số tiền 28.154.000 đồng nhưng không đưa lại cho ông V mà chiếm đoạt tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ mười ba: Trong năm 2020 (không rõ ngày, tháng), Phạm Đình T được ông Trương Thành V giao đi bán hàng điện máy, T đã chở hàng điện máy đến cửa hàng điện máy Hạnh K2 tại số A đường Q, thị xã A, tỉnh Gia Lai, do bà Trương Thị K1 (sinh năm 1979) làm chủ. Sau khi bán hàng điện máy xong, T nhận từ bà K1 số tiền 9.158.000 đồng nhưng không đưa lại cho ông V mà chiếm đoạt tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ mười bốn: Trong năm 2020 (không rõ ngày, tháng), Phạm Đình T được ông Trương Thành V giao đi bán hàng điện máy, T đã chở hàng điện máy đến cửa hàng Đ12 tại số A đường T, thị trấn K, huyện M, tỉnh Gia Lai, do ông Trần Ngọc T6 (sinh năm 1974) làm chủ. Sau khi bán hàng điện máy xong, T nhận từ ông T6 số tiền 1.092.000 đồng nhưng không đưa lại cho ông V mà chiếm đoạt tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ mười năm: Trong năm 2020 (không rõ ngày, tháng), Phạm Đình T được ông Trương Thành V giao đi bán hàng điện máy, T đã chở hàng điện máy đến cửa hàng Đ9 tại tổ B, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai, do ông Hồ Đức Q (sinh năm 1993) làm chủ. Sau khi bán hàng điện máy xong, T nhận từ ông Q số tiền 42.332.000 đồng nhưng không đưa lại cho ông V mà chiếm đoạt tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ mười sáu: Trong năm 2020 (không rõ ngày, tháng), Phạm Đình T được ông Trương Thành V giao đi bán hàng điện máy, T đã chở hàng điện máy đến cửa hàng Đ13 tại Thôn A, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai, do bà Trần Thị N1 (sinh năm 1977) làm chủ. Sau khi bán hàng điện máy xong, T nhận từ bà N1 số tiền 6.070.000 đồng nhưng không đưa lại cho ông V mà chiếm đoạt tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ mười bảy: Trong năm 2020 (không rõ ngày, tháng), Phạm Đình T được ông Trương Thành V giao đi bán hàng điện máy, T đã chở hàng điện máy đến cửa hàng Đ14 tại Tổ B, thị trấn I, huyện I, tỉnh Gia Lai, do ông Phí Ngọc Đ1 (sinh năm 1979) làm chủ. Sau khi bán hàng điện máy xong, T nhận từ ông Đ1 số tiền 27.040.000 đồng nhưng không đưa lại cho ông V mà chiếm đoạt tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ mười tám: Trong năm 2020 (không rõ ngày, tháng), Phạm Đình T được ông Trương Thành V giao đi bán hàng điện máy, T đã chở hàng điện máy đến cửa hàng Đ15 (hiện cửa hàng không còn kinh doanh) tại Thôn A, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Sau khi bán hàng điện máy xong, T nhận số tiền 1.060.000 đồng nhưng không đưa lại cho ông V mà chiếm đoạt tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ mưới chín: Trong năm 2020 (không rõ ngày, tháng), Phạm Đình T được ông Trương Thành V giao đi bán hàng điện máy, T đã chở hàng điện máy đến cửa hàng Đ16 tại Thôn B, xã S, huyện K, tỉnh Gia Lai, do ông Nguyễn Văn K (sinh năm 1982) làm chủ. Sau khi bán hàng điện máy xong, T nhận từ ông K số tiền 8.038.000 đồng nhưng không đưa lại cho ông V mà chiếm đoạt tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ hai mươi: Trong năm 2020 (không rõ ngày, tháng), Phạm Đình T được ông Trương Thành V giao đi bán hàng điện máy, T đã chở hàng điện máy đến cửa hàng Đ17 tại tổ B, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai, do bà Phan Thị Bích O (sinh năm 1984) làm chủ. Sau khi bán hàng điện máy xong, T nhận từ bà O số tiền 5.362.000 đồng nhưng không đưa lại cho ông V mà chiếm đoạt tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ hai mốt: Trong năm 2020 (không rõ ngày, tháng), Phạm Đình T được ông Trương Thành V giao đi bán hàng điện máy, T đã chở hàng điện máy đến cửa hàng điện máy Việt H3 tại số A đường T, thị trấn K, huyện M, tỉnh Gia Lai, do bà Nguyễn Thị H3 (sinh năm 1989) làm chủ. Sau khi bán hàng điện máy xong, T nhận từ bà H3 số tiền 4.990.000 đồng nhưng không đưa lại cho ông V mà chiếm đoạt tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ hai mươi hai: Trong năm 2020 (không rõ ngày, tháng), Phạm Đình T được ông Trương Thành V giao đi bán hàng điện máy, T đã chở hàng điện máy đến cửa hàng điện máy H2 tại số A đường Q, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai, do Nguyễn Hữu H2 (sinh năm 1966) làm chủ. Sau khi bán hàng điện máy xong, T nhận từ ông H2 số tiền 8.500.000 đồng nhưng không đưa lại cho ông V mà chiếm đoạt tiêu xài cá nhân hết.
Vào cuối năm 2020, Phạm Đình T nghỉ việc nên ông Trương Thành V tiến hành đối chiếu công nợ với các đại lý nêu trên thì phát hiện có sự chênh lệch công nợ từ cửa hàng của ông V với các đại lý. Ngày 16/3/2021, ông V đã lập biên bản làm việc với Phạm Đình T, T đã thừa nhận việc đã nhận tiền từ đại lý nhưng không đưa lại cho ông V mà giữ lại tiêu xài cá nhân, T cam kết sẽ trả lại số tiền và chiếc xe mô tô hãn hiệu Honda, loại PCX, biển số 81B1-024.38 cho ông V. Ông V đã nhiều lần yêu cầu Phạm Đình T trả tiền và xe mô tô nhưng T không trả và không liên lạc được, nên ngày 28/02/2022, ông V đã làm đơn tố cáo gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P. Ngày 19/6/2023, Phạm Đình T đến Cơ quan điều tra đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Bị cáo Phạm Đình T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
2. Các vấn đề khác:
Qua định giá, xác định xe mô tô mô tô nhãn hiệu Honda, loại PCX, biển số 81B1-024.38, có trị giá 23.250.000 đồng.
Qua giám định, tại bản kết luận giám định số: 338/KL-KTHS ngày 29/3/2024, kết luận: “Chữ viết, chữ ký trên “BIÊN BẢN LÀM VIỆC”, ngày 16/3/2021 so với chữ viết, chữ ký của Phạm Đình T trên các mẫu so sánh là do cùng một người viết ra”.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận nêu trên.
3. Cáo trạng của Viện kiểm sát:
Bản cáo trạng số: 187/CT-VKS ngày 12-8-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Phạm Đình T về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” được quy định tại khoản 3 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Phạm Đình T và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình sự:
Tuyên bố bị cáo Phạm Đình T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".
Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 175; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; Điều 54 của Bộ luật Hình sự
Xử phạt: Bị cáo mức án từ 03 năm 06 tháng tù đến 04 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Đối với chiếc xe mô tô xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại PCX, biển số 81B1-024.38, Phạm Đình T khai nhận như sau: Vào đầu tháng 3 năm 2021, T sử dụng chiếc xe trên và bị tai nạn gây hư hỏng nên mang đi sửa chữa; đến nay, T vẫn chưa liên lạc để lấy xe. Đồng thời, giữa ông Trương Thành V và T đã thỏa thuận việc ông V đã nhận tiền bồi thường tương đương với giá trị xe mô tô và giao chiếc xe mô tô trên cho T. Do đó, Cơ quan điều tra không thu giữ.
Về dân sự: Quá trình điều tra, Phạm Đình T đã tác động gia đình, đã bồi thường số tiền 313.532.000 đồng cho ông Trương Thành V. Hiện ông V không yêu cầu bồi thường gì khác. Do đó, Cơ quan điều tra không thu giữ.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án:
Bị cáo thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận vì việc làm của mình, kính mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi bị truy tố của bị cáo:
Xét thấy lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Phạm Đình T phạm tội như sau:
Lợi dụng sự tin tưởng của người khác, vào năm 2020 tại cửa hàng Đ3 ở số C đường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai, sau khi được ông Trương Thành V giao chở hàng điện máy gia dụng đến bán cho các đại lý trên các địa bàn thành phố P, huyện Đ, K, Ia G1, K3 và thị xã A, tỉnh Gia Lai, Phạm Đình T đã nhiều lần chiếm đoạt tiền bán hàng của ông V với tổng số tiền 288.532.000 đồng từ các đại lý mua bán hàng điện máy và 01 xe mô tô biển số 81B-024.38 trị giá 23.250.000 đồng, tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 311.782.000 đồng. Đến ngày 19/6/2023, Phạm Đình T ra đầu thú.
Điều 175 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
3. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.
...”
Quyền sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ. Mọi hành vi xâm phạm trái phép đều bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Phạm Đình T là người đã trưởng thành, có trình độ học vấn nhất định, lẽ ra bị cáo phải nhận thức hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội. Tuy nhiên, vì muốn có tiền tiêu xài, lợi dụng sự tin tưởng của bị hại, bị cáo đã nhận chở hàng điện máy gia dụng đến bán cho các đại lý trên các địa bàn thành phố P, huyện Đ, K, Ia G1, K3 và thị xã A, tỉnh Gia Lai. Sau khi nhận được tiền bị cáo không mang tiền về giao cho ông V mà đã nhiều lần chiếm đoạt tiền bán hàng của ông V với số tiền 288.532.000đồng từ các đại lý mua bán hàng điện máy và 01 xe mô tô biển số 81B-024.38 trị giá 23.250.000đồng, tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 311.782.000đồng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính Nhà nước, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản, xâm phạm trật tự trị an xã hội, đã phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm đoạt tài sản” quy định tại khoản 3 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo một mức án tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nhằm giáo dục bị cáo cải tạo bản thân tiến bộ là cần thiết.
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Bị cáo có tình tiết tăng nặng là phạm tội hai lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, tại đơn xin xét xử vắng mặt, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 khi quyết định hình phạt.
[4] Về vật chứng vụ án: Đối với chiếc xe mô tô xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại PCX, biển số 81B1-024.38, Phạm Đình T khai nhận như sau: Vào đầu tháng 3 năm 2021, T sử dụng chiếc xe trên và bị tai nạn gây hư hỏng nên mang đi sửa chữa; đến nay, T vẫn chưa liên lạc để lấy xe. Đồng thời, giữa ông Trương Thành V và T đã thỏa thuận việc ông V đã nhận tiền bồi thường tương đương với giá trị xe mô tô và giao chiếc xe mô tô trên cho T; do đó, Cơ quan điều tra không thu giữ là phù hợp.
[5]Về dân sự: Quá trình điều tra, Phạm Đình T đã tác động gia đình, đã bồi thường số tiền 313.532.000 đồng cho ông Trương Thành V. Hiện ông V không yêu cầu bồi thường gì khác. Do đó, Hội đồng xét xử không giải quyết.
[6] Về án phí: Bị cáo Phạm Đình T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH;
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Đình T phạm tội “Lạm dụng chiếm đoạt tài sản".
- Về hình phạt:
Áp dụng khoản 3 Điều 175; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 50; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017
Xử phạt bị cáo: Phạm Đình T 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt.
- Về án phí:
Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Phạm Đình T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào các Điều 331 và 333 của Bộ luật tố Tụng hình sự năm 2015;
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Riêng bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Nhàn |
Bản án số 188/2024/HSST ngày 20/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 188/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
